Thế hệ John McCain ra đi, quan hệ Việt – Mỹ sẽ thay đổi mãi mãi

“Không nơi nào khác mà tính cách (của McCain) lại thể hiện rõ ràng như ở Việt Nam. Cũng chính là nơi đã lấy đi của ông tất cả, chỉ để lại tính cách”, New York Times viết trong bài điếu văn trong ngày Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain qua đời.

Thật khó để nói về McCain mà không đề cập đến Chiến tranh Việt Nam. Nhưng khi McCain ra đi, vào ngày 25/8, mối liên hệ của ông với đất nước này không phải chỉ là Hỏa Lò hay Hồ Trúc Bạch nơi chiếc máy bay của ông đã rơi xuống, McCain sẽ được nhớ đến như một trong những người có tiếng nói tích cực nhất và đã hoạt động không mệt mỏi cho quan hệ Việt – Mỹ, từ cựu thù sau chiến tranh đến quan hệ như hôm nay.

Thượng nghị sĩ John McCain trong lần trở lại nhà tù Hỏa Lò vào năm 2009. Ảnh: Reuters.

Một trong “hai ông John” đằng sau tổng thống

Theo giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia và là người lâu năm nghiên cứu về Việt Nam, phần lớn các bước tiến trong việc bình thường hóa và thúc đẩy quan hệ Việt – Mỹ đã diễn ra dưới các chính quyền của đảng Dân chủ, Jimmy Carter, Bill Clinton và Barack Obama và được hậu thuẫn bởi một nhóm các cựu binh Việt Nam như John Kerry, John McCain, Chuck Hagel và Pete Peterson.

“Đóng góp then chốt của McCain là tạo ra sự đồng thuận trong lưỡng đảng về vấn đề Việt Nam, ông đã nỗ lực cùng những nghị sĩ đảng Dân chủ để thúc đẩy quan hệ này”, Thayer nói với Zing.vn. 

“Họ chia sẻ niềm tin rằng Mỹ – Việt nên đặt cuộc chiến lại phía sau”. Theo chuyên gia người Úc này, McCain đã ủng hộ việc quan hệ với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế đến quốc phòng và an ninh.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh, cựu phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, cựu đại sứ VN tại EU, nói rằng John McCain là nhân tố tiên phong trong đảng Cộng hòa đã từ đầu cùng với John Kerry công khai và mạnh mẽ ủng hộ bình thường hóa quan hệ.

“Bất chấp quan điểm ý thức hệ khác nhau, họ biết rằng bình thường hóa quan hệ là việc cần làm, nên làm. Tôi cho rằng Việt – Mỹ bình thường hóa quan hệ là dấu ấn của hai thượng nghị sĩ thuộc hai đảng khác nhau, ‘hai ông John'”, bà nói với Zing.vn.

Không gì thể hiện vai trò sóng đôi đó rõ ràng hơn là khung cảnh trong Phòng Đông của Nhà Trắng vào ngày 11/7/1995, khi tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, hai người đàn ông bước ra từ cuộc chiến, McCain và Kerry, đã đứng sau lưng tổng thống. Ông Desaix Anderson, Đại biện lâm thời đầu tiên của Mỹ tại Việt Nam sau chiến tranh, nói rằng nếu không có McCain và Kerry, giây phút đó sẽ bị trì hoãn thêm nhiều năm nữa do sự phản đối trong quốc hội.

Trước đó 2 năm, Kerry đã tháp tùng McCain trở lại nhà tù Hỏa Lò, nơi người Mỹ gọi là Hanoi Hilton và là nơi McCain bị giam trong 6 năm, từ 1967-1973. 

Bà Ninh còn bổ sung rằng việc có hai nghị sĩ ủng hộ quan hệ Việt – Mỹ ở hai đảng khác nhau đã giúp cho mối liên kết song phương được ủng hộ qua nhiều đời chính quyền, bất chấp việc tổng thống lên nắm quyền là người của đảng nào.

Trả lời Zing.vn, Murrey Hiebert, chuyên gia châu Á của CSIS và là cựu ký giả của tạp chí Far Eastern Economic Review (FEER), cũng đồng ý với quan điểm này, bổ sung rằng “McCain mang một trọng trách khó khăn hơn vì tư tưởng chống Việt Nam ở đảng Cộng hòa có phần mạnh hơn”.

“Nhưng ông là một cựu binh, một tù nhân lâu năm với ảnh hưởng mạnh hơn Kerry, ông đã trở về nhà và phản đối cuộc chiến, ông đã mang theo cả quân đội và gia đình của những quân nhân mất tích ở Việt Nam”, chuyên gia của CSIS nói.

Trao đổi với Zing.vn, cựu đại biện Anderson nói rằng Thượng nghị sĩ McCain là một người Mỹ vĩ đại và “bình thường hóa quan hệ với Việt Nam là một trong những thành tựu khi ông tự hào nhất”.

Thượng nghj sĩ John Kerry và John McCain trong một phiên điều trần về Việt Nam tại Quốc hội năm 1992. Ảnh: AP.

“Tôi không muốn nhìn lại trong giận dữ”

John McCain và John Kerry không chỉ đứng bên nhau trong những giờ khắc thành tựu trong quan hệ hai nước. Hơn 2 tháng trước khi tổng thống Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ, những tiếng nói phản đối vẫn vang lên ở Washington D.C., hai thượng nghị sĩ đến gặp tổng thống ở Phòng Bầu dục.

“Tổng thống, với tôi mọi thứ chẳng còn quan trọng nữa, chuyện ai đã ủng hộ ai đã phản đối cuộc chiến. Tôi mệt mỏi phải nhìn lại mọi thứ trong giận dữ. Điều quan trọng là chúng ta tiến về phía trước”, New Yorker dẫn lời cuối McCain nói với Clinton trong cuộc gặp.

Vào khoảnh khắc đó, không phải Kerry, người cựu binh nhưng được biết đến nhiều hơn trong vai trò một tiếng nói phản chiến, mà chính là McCain, người bước ra khỏi Chiến tranh Việt Nam, mới là nghị sĩ đang yêu cầu tổng thống chấm dứt mãi mãi cuộc chiến đó. Clinton, theo những người có mặt tại đó kể lại, có vẻ xúc động dù không cam kết điều gì.

Thế nhưng, lời lẽ trong tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao sau đó 2 tháng vang vọng những gì McCain đã nói: “(Những người đứng cạnh tôi đây) trong những thập niên trước đã có những đánh giá rất khác nhau về cuộc chiến, cuộc chiến đã chia rẽ chúng ta sâu sắc. Nhưng hôm nay họ ở đây với một suy nghĩ chung, đồng ý rằng đã đến lúc nước Mỹ tiến về phía trước”.

McCain đã sớm nhận ra tầm quan trọng chiến lược và kinh tế của Việt Nam, nước nằm ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc và dọc theo khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Sau khi mục tiêu bình thường hóa quan hệ đã đạt được, ông vẫn đến Việt Nam thường xuyên, sớm công kích sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông vào khoảng năm 2009. McCain cũng là một người ủng hộ tự do thương mại, chỉ trích các biện pháp phòng hộ của Mỹ với Việt Nam như việc hạn chế cá da trơn, ngược lại vẫn thường xuyên chỉ trích nhiều vấn đề của Việt Nam.

Cựu đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Cường nhớ về McCain như một người đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối việc chính phủ Mỹ áp thuế phi lý vào mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam,

“Khi tôi gặp nhờ lên tiếng phản đối, thượng nghị sĩ đồng ý ngay và đề nghị cung cấp thêm các lập luận”, đại sứ Cường cho biết.

Một thời gian ngắn sau, McCain mời đại sứ Cường đến gặp, nhưng địa điểm lần này không tiếp tại văn phòng thượng nghị sĩ mà ngay hành lang của phòng họp Thượng viện, nơi có rất nhiều người đứng chờ để gặp mặt các thượng nghị sĩ Mỹ. McCain giải thích rằng ở Mỹ có từ “lobyists”, tức là những người “vận động hành lang” và ngày hôm đó, ông mời đại sứ Việt Nam tới gặp để thông báo thượng nghị sĩ chuẩn bị đưa ra Thượng viện dự luật phản đối chính phủ Mỹ áp thuế cao với cá tra, cá basa của Việt Nam.

McCain khi rời Hà Nội vào ngày 14/3/1973. Ảnh: AP.

Nhưng Việt Nam không thay đổi quan điểm đối ngoại “diều hâu” của McCain, Al Jazeera nhận định. 

Sau khi đắc cử vào Thượng viện Mỹ vào năm 1987, đại diện bang Arizona, McCain đã ủng hộ việc Mỹ can thiệp quân sự vào Chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất, sau đó là cuộc xâm lược Afghanistan và Iraq. Khi những người biểu tình phản chiến xông vào một phiên điều trần của Thượng viện, nơi ngoại trưởng khi đó là Henry Kissinger đang nói, McCain đã yêu cầu cảnh sát lôi họ ra ngoài, gọi những nhà hoạt động là “cặn bã thấp hèn”.

Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến duy nhất nước Mỹ từng thua, và những năm tháng ở chiến trường Việt Nam đã định hình cả một thế hệ người Mỹ. Nó đã tạo ra một thế hệ của những người như McCain, Kerry, hoặc Chuck Hagel. Bà Ninh nói rằng yếu tố con người và những cựu binh Việt Nam đã khiến mối quan hệ Việt – Mỹ có màu sắc đặc biệt.

“Chiều kích con người trong quan hệ Việt – Mỹ đã góp phần tạo nền tảng, là nhân tố góp phần ổn định quan hệ. Trong lịch sử, chưa chắc giữa bất kỳ hai nước cựu thù nào lại có được những yếu tố tương tự”, theo bà cựu đại sứ.

“Tôi có thể không đồng ý với McCain trong một số vấn đề. Nhưng đối với Việt Nam, McCain đã luôn là một người bạn”, bà Ninh nói.

Một thế hệ “những người bạn Việt Nam” sắp ra đi

Với sự ra đi của McCain và việc Kerry đã không còn ở Thượng viện Mỹ, người ta bắt đầu nghĩ về một tương lai quan hệ Việt – Mỹ khi không còn “hai ông John”, và rộng hơn là không còn một thế hệ cựu chiến binh Mỹ từng có mối liên hệ cá nhân với Việt Nam. Trong thập niên 1990, chính tiếng nói của họ tại Washington D.C. đã đóng vai trò quyết định cho việc bình thường hóa quan hệ. Giờ đây, khi những tiếng nói quyền lực đó dần ra đi vì tuổi già, mối quan hệ 20 năm qua có thể bị đặt trước những thách thức mới.

Ông Hiebert cho rằng chính McCain đã thúc đẩy đến cùng quan hệ Mỹ – Việt và chỉ trích cách hành xử hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, trong khi John Kerry và Chuck Hagel, trên cương vị ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng trong chính quyền Barack Obama, lại ít năng động hơn trong quan hệ với Việt Nam và Đông Nam Á. Cả hai người tập trung nhiều hơn vào các xung đột ở Trung Đông.

“Với những sự ra đi gần đây, quốc hội Mỹ đã không còn nghị sĩ nào có kinh nghiệm thực tế và kiến thức về Đông Nam Á và cả châu Á – Thái Bình Dương nói chung”, chuyên gia của CSIS nhận định.

“Việt Nam và các nước Đông Nam Á sẽ phải vất vả hơn để lọt vào tầm quan tâm của Washington”.

McCain qua đời, Việt Nam sẽ mất đi một tiếng nói ủng hộ quan trọng trong chính trường Mỹ. Ảnh: Reuters.

Trái lại, bà Tôn Nữ Thị Ninh cho rằng trong hiện tại, việc mở rộng và làm sâu sắc thêm quan hệ Việt – Mỹ phần lớn được nhìn nhận là điều cần thiết và tích cực trong chính giới ở Mỹ: “Tôi không nghĩ rằng dứt khoát phải là cựu chiến binh thì mới đảm bảo quan hệ phát triển ổn định. Nhóm có đầu óc bảo thủ, kỳ thị với Việt Nam tại Mỹ cũng không đông. Phần lớn người, dù là cánh hữu hay cánh tả tại Mỹ, đều cho rằng cần đẩy mạnh quan hệ với Việt Nam. Và trong nhận định đó còn có cả yếu tố địa chính trị”. 

Giáo sư Thayer đánh giá những đóng góp của McCain và các cựu binh Chiến tranh Việt Nam vào quan hệ song phương là những đóng góp có tác dụng lâu dài, ngay cả sau khi thế hệ này ra đi.

Ông Hiebert lưu ý hai nhân vật mà châu Á có thể dõi theo sau khi McCain không còn ở Thượng viện là Dan Sullivan của bang Alaska và Cory Gardner của bang Colorado. McCain đã đi cùng Sullivan, cũng là thành viên Ủy van Quân vụ Thượng viện, đến châu Á và khuyến khích Sullivan tham gia tích cực vào các vấn đề trong khu vực, chuẩn bị cho sự vắng mặt của mình. 

“Quan hệ Việt – Mỹ trong tương lai sẽ tùy vào tình hình thúc đẩy hoạt động trao đổi hai bên, không có lý do gì để chững lại”, theo bà Ninh.

“Chỉ là, màu sắc đặc biệt của chiến tranh và quá khứ, màu sắc do những cựu chiến binh Mỹ mang lại trong suốt những năm qua sẽ phai dần đi trong bức tranh quan hệ song phương”.

Cuộc đời thăng trầm của TNS John McCain TNS John McCain là phi công Mỹ bị bắn rơi tại Hà Nội năm 1967. Trở về từ chiến tranh, ông vươn lên thành chính trị gia đầy uy tín được cả hai phe Dân chủ – Cộng hòa kính trọng.

Theo Tri Thức Trực Tuyến

Duy trì đà phát triển mạnh mẽ của quan hệ Đối tác Toàn diện Việt – Mỹ

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995, quan hệ Việt Nam – Mỹ đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Từ chỗ là cựu thù sau chiến tranh, hai nước đã thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện năm 2013, tăng cường và mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực, từ chính trị, ngoại giao, kinh tế, thương mại, đầu tư đến quốc phòng, an ninh, văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, khắc phục hậu quả chiến tranh và giao lưu nhân dân.

Từ năm 2015 đến nay, hai nước đã trao đổi với nhịp độ chưa từng có các đoàn cấp cao trong đó có các chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (7/2015), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (5/2017), chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Barack Obama (5/2016) và Tổng thống Donald Trump (11/2017). Riêng trong năm 2017, có hai chuyến thăm cấp cao, cũng là điều chưa từng có từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là lãnh đạo Đông Nam Á đầu tiên thăm Nhà Trắng dưới chính quyền Tổng thống Donald Trump, trong khi Tổng thống Donald Trump cũng chọn Việt Nam là điểm đến đầu tiên tại Đông Nam Á trong năm đầu tiên nhiệm kỳ.

Tổng thống Donald Trump đến Việt Nam tham dự hội nghị APEC và thăm chính thức hồi tháng 11/2017. Ảnh: Hoàng Hà.

Hai bên cũng trao đổi nhiều đoàn các cấp với các chuyến thăm Mỹ của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch; Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis và mới đây nhất là Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo thăm Việt Nam. Những chuyến thăm đó đã thực sự làm sâu sắc thêm quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam – Mỹ, thúc đẩy đà phát triển quan hệ trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thể chế chính trị của nhau.

Kinh tế, thương mại, đầu tư tiếp tục là lĩnh vực ưu tiên và động lực thúc đẩy quan hệ. Từ mức 500 triệu USD khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995, giao thương đã tăng 100 lần đạt hơn 50 tỷ USD vào cuối năm 2017. Chỉ tính riêng năm 2017, giá trị hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chiếm hơn 20% tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài. Việt Nam cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Mỹ tại Đông Nam Á với mức độ tăng trưởng nhanh. Hai bên vẫn tiếp tục mở rộng thị trường, tìm kiếm các mặt hàng xuất khẩu mới. Việt Nam mới đây đã xuất khẩu vú sữa sang Việt Nam trong khi mở lại thị trường cho bột bã ngô của Mỹ, mua thêm nhiều máy bay Boeing và các sản phẩm công nghệ cao. Mỹ hiện nằm trong 10 nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam.

Trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh, trên cơ sở những thoả thuận đã đạt được, trong đó có tuyên bố Tầm nhìn chung Việt Nam – Mỹ năm 2015, hai bên đã từng bước mở rộng và đạt được những bước tiến quan trọng, đặc biệt trên các lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ nhân đạo, giảm nhẹ thiên tai, gìn giữ hoà bình, đào tạo và an ninh hàng hải. Trong thời gian qua, Mỹ đã chuyển giao một tàu Hamilton và sáu xuồng tuần tra cho Việt Nam, góp phần tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam. Mới đây, tàu sân bay Carl Vinson của Mỹ cũng lần đầu tiên thăm Việt Nam, thể hiện mong muốn của hai nước tham gia vào nỗ lực chung của khu vực nhằm duy trì hoà bình, ổn định, hợp tác và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Thủy thủ trên tàu sân bay Carl Vinson neo tại cảng ở Đà Nẵng vào tháng 3. Ảnh: Hải An.

Hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh là lĩnh vực được đặc biệt chú trọng, góp phần xây dựng lòng tin, thúc đẩy quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam – Mỹ. Trên tinh thần nhân đạo, Việt Nam đã phối hợp hiệu quả với Mỹ trong lĩnh vực tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh. Mỹ cũng có những nỗ lực đáng ghi nhận trong các lĩnh vực rà phá bom mìn, tẩy độc da cam. Mới đây, hai nước đã hoàn tất việc tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng. Mỹ cam kết tiếp tục đóng góp và hợp tác Việt Nam trong việc tẩy độc sân bay Biên Hòa và tìm kiếm bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh, giúp đỡ nạn nhân chiến tranh…

Hai nước cũng mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ và giao lưu nhân dân. Hiện có khoảng 30.000 sinh viên Việt Nam đang theo học tại các trường đại học Mỹ, đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng và tạo việc làm của Mỹ. Năm 2017, hai nước cũng phối hợp đưa đại học Fulbright vào hoạt động, tạo điều kiện cho thanh niên Việt Nam tiếp cận với giáo dục tiêu chuẩn cao, tiếp thu kiến thức hiện đại, góp phần xây dựng đất nước.

Không chỉ trong quan hệ song phương, Việt Nam và Mỹ cũng phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn đa phương như APEC, ASEAN, ARF… vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực. Hai bên nhất trí tăng cường quan hệ ASEAN – Mỹ, ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực Ấn Độ Dương – châu Á – Thái Bình Dương. Về Biển Đông, hai bên ủng hộ quan điểm việc bảo đảm tự do, an ninh hàng hải, hàng không và tôn trọng luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982; giải quyết hoà bình các tranh chấp thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực; không có những hành động làm leo thang căng thẳng trong khu vực. Việt Nam cùng nhiều nước khác trong khu vực tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Mỹ trong thực hiện các nghị quyết của Liên Hợp Quốc liên quan đến vấn đề Triều Tiên.

Đội quân danh dự của quân đội Mỹ đưa các bộ hài cốt được cho là của quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam lên máy bay của Không lực Mỹ để chuyển về nước. Đến nay, Việt Nam đã trao trả hài cốt quân nhân Mỹ được hơn 139 đợt. Ảnh: Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội.

Đối với một số vấn đề tồn tại liên quan lĩnh vực kinh tế – thương mại – đầu tư, hai bên đã tái khởi động Cơ chế hợp tác theo Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA), đối thoại trên tinh thần cùng có lợi, tìm kiếm những lĩnh vực hợp tác mới. Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư trong nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Mỹ mở rộng làm ăn tại Việt Nam; đề nghị Mỹ mở rộng thị trường, rỡ bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hoá Việt Nam cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Mỹ; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam.

Nhiệm vụ của ngành ngoại giao nói chung và của Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ nói riêng trong thời gian tới sẽ là kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, coi trọng quan hệ với Mỹ ; phát huy đà phát triển quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam – Mỹ, tiếp tục duy trì các tiếp xúc, trao đổi cấp cao; tích cực triển khai các thoả thuận của các chuyến thăm cấp cao vừa qua, trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, quốc phòng, an ninh, giáo dục, khoa học công nghệ, giao lưu nhân dân, giải quyết hậu quả chiến tranh…; tăng cường kết nối giữa Việt Nam và Mỹ qua các kênh chính quyền, Quốc hội, doanh nghiệp, học giả; xử lý kịp thời, hiệu quả những vấn đề tồn đọng và nảy sinh.

Tóm lại, quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam – Mỹ trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Tiềm năng hợp tác giữa hai nước còn rất lớn, dư địa phát triển còn nhiều. Điều quan trọng là hai bên cần phát huy những điểm tương đồng về lợi ích, xử lý các vấn đề tồn tại trên cơ sở đôi bên cùng có lợi, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.

Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Hà Kim Ngọc. Ảnh: Hải An.

Với tư cách đại sứ mới được bổ nhiệm tại Mỹ, tôi tin tưởng Hội nghị Ngoại giao lần thứ 30, với phương châm “chủ động, sáng tạo, hiệu quả, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII”, sẽ thành công tốt đẹp, đề ra những phương hướng, giải pháp mới, thúc đẩy hơn nữa quan hệ Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, trong đó có quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam – Mỹ, nâng cao hơn nữa vị thế quốc tế của đất nước, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Xin chúc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 30 và Hội nghị Ngoại vụ lần thứ 19 thành công tốt đẹp.

Theo Tri Thức Trực Tuyến

Thủ tướng tiếp cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore

Chiều 3/8 tại trụ sở Chính phủ, tiếp cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao những nỗ lực và đóng góp tích cực của ông Al Gore trong việc xây dựng và thúc đẩy quan hệ Việt Nam – Mỹ, nhất là quá trình bình thường hóa quan hệ song phương (năm 1995).

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định Việt Nam luôn coi Mỹ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu và mong muốn thúc đẩy để quan hệ đối tác toàn diện hai nước phát triển thực chất và hiệu quả, vì lợi ích nhân dân hai nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh Việt Nam và Mỹ đang có mối quan hệ tốt đẹp, Thủ tướng mong muốn hai nước thúc đẩy quan hệ thương mại và đầu tư mạnh mẽ hơn nữa thời gian tới.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore tại trụ sở Chính phủ hôm 3/8. Ảnh: VGP/Quang Hiếu.

Ông Al Gore bày tỏ vui mừng khi quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ. Trở lại thăm Việt Nam lần này, ông hết sức ấn tượng về sự phát triển của Việt Nam và cho biết hai đảng chính trị ở Mỹ đều nhất trí quan điểm thúc đẩy quan hệ hợp tác với Việt Nam, một mối quan hệ phát triển mạnh mẽ giữa hai nước sẽ đóng góp tích cực vào hòa bình, phát triển ở khu vực. 

Bày tỏ ấn tượng về thông điệp của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ở Hội nghị cấp cao G7 mở rộng ở Quebec (Canada) vừa qua, trong đó nêu rõ những vấn đề lớn về bảo vệ môi trường, ông Al Gore cho rằng hậu quả của biến đổi khí hậu rất nghiêm trọng và Việt Nam là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất. Do vậy, phát triển năng lượng sạch, bền vững là bước đi quan trọng để giảm gây ô nhiễm môi trường và hạn chế tác động của biến đổi khí hậu.

Theo ông Al Gore, tại Mỹ hiện nay, các nhà máy nhiệt điện than đã bị đóng cửa, thay vào đó là các nhà máy điện gió, mặt trời để bảo vệ môi trường. Điều đó khiến chi phí giá thành của điện gió và mặt trời ngày càng rẻ. Đây cũng là xu hướng phát triển ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ. Đánh giá Việt Nam có tiềm năng lớn phát triển năng lượng điện gió và mặt trời, ông mong muốn hai bên thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực này. 

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore. Ảnh: VGP/Quang Hiếu.

Đánh giá cao các ý kiến của ông Al Gore, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng hai bên cần thúc đẩy hợp tác về năng lượng trong thời gian tới.

Khẳng định hết sức coi trọng vấn đề an ninh năng lượng nhằm bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới, Thủ tướng cho biết Việt Nam đang tập trung đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và nâng cao tỷ trọng năng lượng tái tạo và năng lượng mới, vừa đảm bảo nguồn năng lượng trong thời kỳ chuyển đổi, vừa đáp ứng cam kết quốc tế về phát thải nhà kính. Việt Nam cũng tập trung tìm kiếm nguồn vốn, công nghệ hiện đại đầu tư vào lĩnh vực năng lượng.

Trong những năm qua, Việt Nam và Mỹ luôn tích cực hợp tác trong lĩnh vực năng lượng, không chỉ cấp chính phủ mà cả ở cấp doanh nghiệp.

Nhân chuyến thăm Việt Nam vừa qua của Tổng thống Donald Trump, Tổng Công ty Khí Việt Nam đã ký bản ghi nhớ về hợp tác cung cấp khí đốt hóa lỏng tự nhiên với Tổng Công ty Phát triển đường ống dẫn khí Alaska với tiềm năng lên tới 5 tỷ USD trong vòng 10 năm.

Thủ tướng mong muốn dù trên cương vị nào ông Al Gore cũng tiếp tục đóng góp cho việc thúc đẩy mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Mỹ.

Theo Tri Thức Trực Tuyến