Các địa phương chủ động triển khai Tháng vệ sinh tiêu độc, khử trùng

Một trong những công tác được các địa phương đẩy mạnh đó là tuyên truyền và hướng dẫn vệ sinh tiêu độc, khử trùng tại các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung, nhỏ lẻ; cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm. Bên cạnh đó, hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn cũng được các địa phương đẩy mạnh đến khu vực dân cư, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nên góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của khâu vệ sinh, tiêu độc khử trùng nhằm bảo đảm sản xuất, kinh doanh an toàn. Đối với động vật và sản phẩm động vật nhập lậu, không có giấy tờ hợp pháp bị thu giữ thì nghiêm túc thực hiện việc khử trùng phương tiện vận chuyển, khu vực lưu giữ ngay sau khi tiêu hủy, phân và rác thải được xử lý đúng cách bằng cách chôn hoặc đốt nhằm loại bỏ những nguy cơ phát tán vi rút, vi khuẩn gây hại.

Ông Lê Đức Đạt ở thôn Nghĩa Hòa, xã Đắk Nia (Gia Nghĩa) chú trọng vệ sinh chuồng trại để chăn nuôi an toàn

Theo ông Ngô Quốc Hưng, Chi cục Trưởng Chi cục Chăn nuôi và Thú y thì qua theo dõi, các địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể, sát với thực tế. Các đội phun thuốc sát trùng ở cơ sở tuân thủ việc phun khử trùng sau khi đã được vệ sinh cơ giới bằng quét dọn, cọ rửa nên đạt hiệu quả sát trùng cao. Các hoạt động về kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện được đơn vị chú ý nên đến nay, các huyện, thị xã đều đang tích cực hoàn thành các phần việc cụ thể, cơ bản đạt tiến độ. Đặc biệt, năm nay, khu vực biên giới, nhất là các cửa khẩu, đường mòn, lối mở được đơn vị chuyên môn chú ý triển khai các phương án phòng, chống dịch nghiêm ngặt hơn. Cụ thể, tại các nơi đều được bố trí hố sát trùng đúng quy cách với chiều dài hơn một vòng bánh xe để khử trùng các phương tiện qua lại, đối với phương tiện chở động vật, sản phẩm động vật được tiêu độc khử trùng toàn bộ. Đơn vị cũng xác định những “khu vực đặc biệt” phải được tiến hành tiêu độc khử trùng kỹ lưỡng như ở ổ dịch cũ thuộc các xã Đắk Nang, Đức Xuyên (Krông Nô)…

 

Theo Bộ Nông nghiệp-PTNT, tính đến hết tháng 2/2018, tại Trung Quốc đã ghi nhận 1.624 người bị nhiễm vi rút cúm gia cầm A/H7N9, trong đó có 621 ca tử vong. Trong tháng 1/2018, các ổ dịch cúm gia cầm A/H5N2, A/H5N8, A/H5N6 đã phát sinh ở nhiều quốc gia, như tại Campuchia là cúm A/H5N1, tại Trung Quốc là cúm A/H5N6.

 

Tuy nhiên, cơ quan chức năng cũng khuyến cáo người dân không thể chủ quan, lơ là mà cần thường xuyên nâng cao nhận thức trong mua, bán sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, có chứng nhận kiểm dịch. Ông Hưng nhấn mạnh: “Hiện nay, vi rút Cúm A/H7N9 và một số chủng vi rút có độc cao khác như A/H5N2, A/H5N8 đã được cảnh báo nguy cơ cao lây lan vào Việt Nam nói chung và Đắk Nông nói riêng. Do đó, các địa phương, người chăn nuôi, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật cần nêu cao ý thức cộng đồng, hợp tác, chung tay với cơ quan chuyên môn thực hiện tốt công tác vệ sinh, tiêu  độc khử trùng không chỉ trong Tháng vệ sinh tiêu độc khử trùng đợt 1 năm 2018 mà cả những tháng khác trong năm”.

Hồng Thoan

Krông Nô bảo tồn nguồn gen cây sâm cau

Thực tế, thời gian qua diện tích rừng bị thu hẹp, việc thu hái cây dược liệu này diễn ra tự do, ngành chức năng chưa có kế hoạch bảo tồn, tái sinh phát triển nên sâm cau ngày càng bị cạn kiệt.

Qua khảo sát cho thấy trữ lượng không còn nhiều và sự phân bố của sâm cau trên địa bàn huyện Krông Nô nằm rải rác, chủ yếu tập trung dưới tán cây có độ che phủ tương đối dưới tán cây gỗ lớn và cây điều không có sự cạnh tranh của cây cỏ dại và cây bụi nhỏ.

Cây sâm cau mọc nhiều dọc sông Sêrêpốk

Dưới tán rừng Đ’ray Sáp và Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung cây thường chỉ mọc thẳng đứng và ít rễ. Còn tại các đồi đất dọc vùng Buôn Choáh, Đắk D’rô cây mọc thành từng bụi lớn phát triển nhiều rễ. Tuy nhiên, do người dân sử dụng thuốc diệt cỏ nên lượng phân bố rất ít. Qua tìm hiểu, hiện nay có rất nhiều người dân khai thác loại cây này về sắc nước để uống và ngâm rượu. Việc sử dụng thuốc diệt cỏ trong canh tác nông nghiệp cũng là nguyên nhân khiến cho trữ lượng sâm cau ngày càng giảm, nguy cơ tuyệt chủng cao.

Trước tình hình đó, năm 2017 huyện Krông Nô đã xây dựng Đề án “Bảo tồn nguồn gen gắn với phát triển cây dược liệu sâm cau dưới tán rừng tại Krông Nô”. Đề án nhằm bảo tồn, tìm kiếm và phát triển loại dược liệu này trên địa bàn, tạo hướng đi mới cho ngành nông nghiệp địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân.

Theo đó, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện tổ chức khảo sát sơ bộ, lấy mẫu phân tích gửi Viện Dược liệu. Kết quả khảo sát tại khu vực rừng đặc dụng cảnh quan Đ’ray Sáp và một số địa điểm các đồi đất tại xã Buôn Choáh, Đắk D’rô, khu vực rừng bảo tồn thiên nhiên Nam Nung cho thấy: Sâm cau Krông Nô không khác nhiều so với các sâm cau đã tìm thấy ở các tỉnh Quảng Nam, Khánh Hòa…

Theo kết quả phân tích định tính của Viện Dược liệu, cây sâm cau có tên khoa học là Peliosanthes micranthan Aver N.Taanaka, thuộc chi Huệ đá. Thành phần hóa học của sâm cau tại Krông Nô gồm các chất như: flavonoid, saponin, đường khử, polysacharid và acid amin. Theo đánh giá của Viện Dược liệu đây là loại thuốc quý.

 

Huyện Krông Nô có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp với khoảng 40 loại cây dược liệu, trong đó có cây sâm cau. Cây sâm cau tên dân gian là Huệ chi đá, loại cây thân cỏ, thân ngắn. Thông thường thân dài khoảng 3 – 5 cm, mang nhiều rễ cứng dạng gỗ. Mỗi cây mọc từ 2  – 5 thân rễ. Lá cong mạnh về phía dưới, cuống lá khá dài khoảng 10cm. Cây sinh trưởng trong rừng cây lá rộng nguyên sinh hoặc thứ sinh trên vách đá cát rất dốc ở độ cao 200 – 400 m so với mực nước biển, dưới tán lá rừng.

 

Năm 2017, huyện đã triển khai mô hình trồng sâm cau tại xã Đắk Sôr với diện tích 300 m2, hiện nay đang sinh trưởng và phát triển tốt. Trong năm 2018, địa phương sẽ tiếp tục triển khai mô hình với quy mô 3.000 m2, với kinh phí 400 triệu đồng tại một số xã. Bước đầu đánh giá, mô hình có kết quả, hứa hẹn mang lại giá trị kinh tế khá cao. Đây sẽ là cây trồng mới được bổ sung vào nguồn cây giống của địa phương để người dân lựa chọn trong phát triển kinh tế. Nhất là tận dụng đất dưới tán rừng, tán cây công nghiệp để tăng thu nhập.

Ông Doãn Gia Lộc, Trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Krông Nô cho hay: Việc bảo tồn cây sâm cau và các loại cây dược liệu quý nhằm đẩy mạnh việc phát triển đa dạng các loại cây dược liệu trên địa bàn huyện. Hoạt động này nhằm cung cấp nguồn dược liệu cho thị trường trong và ngoài nước và công tác khám chữa bệnh đông y của các cơ sở y tế trong tỉnh. Phòng Nông nghiệp đã đề nghị huyện chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện, Ban Quản lý rừng đặc dụng Đ’ray Sáp, xã Đắk Sôr triển khai các biện pháp nhằm ngăn chặn và bảo vệ chặt chẽ, đưa vào danh mục cây bảo vệ nghiêm ngặt, tránh tình trạng khai thác tràn lan như hiện nay.

Bài, ảnh: Đức Hùng

Ðầu tư công nguồn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2016-2020: Vẫn phải “liệu cơm… gắp mắm”

Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển ngân sách địa phương giai đoạn 2016-2020 là hơn 3.330 tỷ đồng (riêng nguồn vốn dự phòng là 261,6 tỷ đồng). Trong đó, bao gồm nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương, nguồn thu sử dụng đất, nguồn thu xổ số kiến thiết và nguồn bổ sung phát triển từ ngân sách địa phương.

Nhà thầu thi công hạng mục đập ngăn nước tại Dự án Khu công nghiệp Nhân Cơ. Ảnh: Lê Phước

Ưu tiên thứ tự đầu tư

Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư, dựa trên quy định của luật Đầu tư công, nguồn vốn ngân sách địa phương giai đoạn 2016-2020 sẽ được thực hiện theo nguyên tắc là ưu tiên đầu tư bảo đảm tỷ lệ tối thiểu cho giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ. Sau đó, nguồn vốn sẽ tiếp tục được phân bổ để đáp ứng nhu cầu đầu tư y tế, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, giao thông, thủy lợi, cấp điện, cấp thoát nước, trụ sở các cấp quản lý nhà nước, công trình phòng thủ… Dựa trên nguyên tắc này, theo từng nguồn vốn đầu tư, UBND tỉnh sẽ bố trí vốn để thu hồi các khoản vốn ứng trước; thanh toán nợ 100% đối với các dự án đã quyết toán hoàn thành. Bố trí đến 95% tổng mức đầu tư của dự án đã trừ đi phần dự phòng đối với dự án đã hoàn thành chưa quyết toán, dự án chuyển tiếp hoàn thành trong giai đoạn, bố trí đủ vốn đối ứng các dự án ODA. Phần vốn còn lại sẽ được UBND tỉnh xem xét để mở mới các dự án.

Cụ thể, đối với nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương trong giai đoạn 2016-2020 là hơn 1.804 tỷ đồng, UBND tỉnh sẽ phân bổ khoảng 430 tỷ đồng cho lĩnh vực ưu tiên hàng đầu là giáo dục đào tạo. Trong đó, riêng 14,8 tỷ đồng sẽ dành thanh toán nợ cho 17 dự án; hơn 96 tỷ đồng thanh toán chuyển tiếp cho 13 chương trình và dự án; hơn 120 tỷ đồng để tiến hành khởi công mới cho 15 dự án. Số vốn còn lại hơn 198 tỷ đồng sẽ dành khởi công mới các dự án và phân cấp cho cấp huyện.

Tương tự, nằm trong tốp được ưu tiên trong giai đoạn này, lĩnh vực khoa học công nghệ sẽ được UBND tỉnh dự kiến đầu tư khoảng 130 tỷ đồng. Thực tế, trong 2 năm 2016 và 2017, lĩnh vực này đã được giải ngân 30 tỷ đồng. Năm 2018, UBND tỉnh dự kiến phân bổ thêm 30 tỷ đồng để đáp ứng nhu cầu chuyển tiếp các dự án. Còn trong 2 năm cuối là 2019-2020, mỗi năm tỉnh dự kiến phân bổ khoảng 15 tỷ đồng. Dựa trên số vốn được phân bổ cho cả giai đoạn, UBND tỉnh đã, đang ưu tiên thanh toán nợ cho 2 dự án, với số vốn 8,7 tỷ đồng; chuyển tiếp 5 dự án, kinh phí 22 tỷ đồng; đã khởi công mới cho 8 dự án, kinh phí 87,3 tỷ đồng. Số vốn còn lại sẽ dành để thực hiện chính sách của nhà nước như: Đầu tư cho khoa học công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao. Trong nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương, sau khi trừ phần vốn được ưu tiên số còn lại mới tiến hành thực hiện đầu tư cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.

Tương tự, đối với nguồn thu sử dụng đất cấp tỉnh (chiếm hơn 326 tỷ đồng), phần lớn sẽ được dành để bố trí thanh toán nợ và chuyển tiếp cho 18 dự án, sau đó mới tính đến khởi công mới các dự án.

Đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ san ủi mặt bằng tại Dự án Khu công nghiệp Nhân Cơ. Ảnh: Lê Phước

Lựa chọn danh mục dự án mới phù hợp

Thực tế, do khó khăn về nguồn vốn, cũng như chủ trương cắt giảm, thắt chặt đầu tư công, trong giai đoạn 2016-2020, các dự án mở mới được Chính phủ xếp hàng cuối cùng theo các dự án thuộc thứ tự ưu tiên. Trong giai đoạn 2016-2017, tỉnh Đắk Nông đã thực hiện đúng với chủ trương này. Trong hai năm qua, hầu như trên địa bàn tỉnh không có các dự án được phê duyệt mở mới.

Bước sang giai đoạn 2018-2020, trong việc lựa chọn danh mục đầu tư khởi công mới đối với các lĩnh vực sẽ tiếp tục được địa phương lựa chọn kỹ càng hơn nữa. Theo đó, đối với đầu tư hạ tầng đô thị sẽ sử dụng nguồn thu sử dụng đất cấp tỉnh. Trong đó, phần lớn nguồn vốn tập trung cho công tác giải phóng mặt bằng cho các dự án thuộc nguồn vốn Trung ương đầu tư, giải phóng mặt bằng đô thị Gia Nghĩa. Đối với lĩnh vực y tế, tỉnh tập trung nguồn lực thực hiện Đề án Bệnh viện vệ tinh đã được phê duyệt. Toàn tỉnh sẽ dành 10 tỷ đồng để thực hiện chính sách xã hội hóa; hơn 33,6 tỷ đồng bố trí cho các dự án cấp bách của ngành y tế. Tương tự, đối với đầu tư cho giáo dục đào tạo, trong giai đoạn 2018-2020, tỉnh phân cấp cho cấp huyện 48 tỷ đồng; đền bù giải phóng mặt bằng Trường Cao đẳng Cộng đồng 75,9 tỷ đồng. Phần vốn còn lại 33,7 tỷ đồng hỗ trợ có mục tiêu cho cấp huyện thực hiện chỉ tiêu giáo dục trong Chương trình nông thôn mới.

 

Ông Lưu Văn Trung, Giám đốc Sở Kế hoạch và Ðầu tư cho biết: “Không còn cách nào khác là các cấp, ngành phải tăng các nguồn do địa phương, chủ động nguồn thu. Trong đó, tập trung thu sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết, tăng thu ngân sách địa phương, tăng tiết kiệm chi thường xuyên để tăng chi đầu tư phát triển. Có như vậy, tỉnh mới bảo đảm được sự phát triển, cũng như không làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế như đã đề ra”.

 

Chú trọng hiệu quả đầu tư của từng dự án

Hiện nay, trong bối cảnh Chính phủ ưu tiên xử lý giảm nợ công, tiếp tục thắt chặt đầu tư công thì việc thu xếp nguồn lực phát triển theo kế hoạch đã đề ra phần lớn là do ngân sách địa phương đảm trách. Do vậy, để nâng cao hiệu quả trong đầu tư công, UBND tỉnh, các cấp, ngành cần đề xuất, triển khai nhiều giải pháp quyết liệt hơn nữa. Liên quan đến giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đầu tư công giai đoạn 2016-2020, đại diện Ban Kinh tế-Ngân sách, HĐND tỉnh cho rằng, đối với các dự án phân bổ theo nhu cầu của cấp huyện, trong điều kiện nguồn đầu tư hạn chế, UBND tỉnh cần xem xét kỹ hiệu quả đầu tư, cũng như các điều kiện liên quan khác của từng dự án để quyết định đầu tư đúng mục đích, đúng đối tượng. Hằng năm, sau khi Nghị quyết HĐND tỉnh thông qua, UBND tỉnh nên xem xét khả năng cân đối nguồn lực cho các dự án, tính ưu tiên để bố trí dứt điểm nguốn vốn đến năm 2020, tránh tình trạng nợ đọng kéo dài.

Có thể nói, để nâng cao hiệu quả đầu tư công giai đoạn 2016-2020, cùng với UBND tỉnh, về phía các ngành, địa phương phải rà soát, đánh giá sự cấp thiết từng dự án để giãn, hoãn một số nhiệm vụ đầu tư cần thiết nhưng chưa cấp bách. Rà soát, lựa chọn những dự án thực sự cấp bách, bảo đảm trong phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương, phù hợp với khả năng cân đối, thu xếp nguồn vốn của tỉnh.

Lương Nguyên

Nông dân Đắk Mil được hỗ trợ trên 800.000 cây cà phê giống

Hàng năm, sau mỗi vụ thu hoạch, Phòng Nông nghiệp – PTNT huyện Đắk Mil đều phối hợp với UBND các xã, thị trấn thống kê, rà soát lại diện tích tái canh và nhu cầu giống của người dân trên địa bàn. Trên cơ sở hạt giống được Sở Nông nghiệp – PTNT tỉnh cấp, từ năm 2012 tới nay, huyện Đắk Mil đã bố trí kinh phí gieo ươm và cấp phát cho người dân 585.520 cây giống (khoảng 600 ha) với tổng kinh phí 1,27 tỷ đồng.

Ngoài ra, huyện cũng kết hợp với Công ty Nestle Việt Nam và Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2/9 (Đắk Lắk) hỗ trợ 217.533 cây giống cho người dân. Qua theo dõi của ngành nông nghiệp, phần lớn cây giống cung ứng cho nhân dân các xã trồng đúng thời vụ và bảo đảm chất lượng.

Lê Phước

Tập trung các giải pháp hỗ trợ sản xuất công nghiệp

Sản xuất mầm tinh tại Nhà máy Alumin Nhân Cơ (Đắk R’lấp)

Theo đánh giá của ngành Công thương, trong 4 lĩnh vực sản xuất của ngành thì đã có 3 lĩnh vực tăng trưởng cao so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1.760,56 tỷ đồng, tăng 9,15%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước đạt 357,9 tỷ đồng, tăng 11,99%; công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: 16,5 tỷ đồng, tăng 20,94%.

Trong số 20 sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh đã có 12 sản phẩm tăng trưởng cao về sản lượng trong quý I so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như: Điện sản xuất: 160,37 triệu kWh, tăng 52,73%; sản phẩm alumin: 160 nghìn tấn, tăng 25%; nước máy: 828,33 nghìn m3, tăng 22,12%; tinh bột sắn: 3.328,6 tấn, tăng 19,37%; cà phê bột: 360 tấn, tăng 18%…

Trên thực tế, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trực thuộc ngành có được sự tăng trưởng khá như trên là xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, Nhà máy Alumin Nhân Cơ tiếp tục hoạt động ổn định và đạt tốc độ tăng trưởng theo kế hoạch đề ra. Thời tiết thuận lợi cũng đã tạo điều kiện tốt cho hoạt động sản xuất của các nhà máy thủy điện trên địa bàn.

Các doanh nghiệp trong tỉnh cũng đã nỗ lực trong việc bảo đảm nguồn nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Mặt khác, đây cũng là thời điểm thuận lợi cho việc tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp chế biến nông sản và một số sản phẩm công nghiệp ra thị trường, nhất là dịp Tết Nguyên đán…

Gia công và sửa chữa cơ khí tại Hộ kinh doanh Huy Phát (Gia Nghĩa)

Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của ngành chức năng thì hiện nay, mặc dù sản xuất công nghiệp của tỉnh có sự tăng trưởng, nhưng về giá trị gia tăng của sản phẩm vẫn còn khá chậm. Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm của tỉnh rất hạn chế. Thời gian qua, sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn chưa tạo được mối liên kết phát triển giữa các ngành theo hướng hợp tác, tạo thành chuỗi giá trị phù hợp với cơ chế thị trường.

Việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp lại rất thấp nên ít có sản phẩm mới với giá trị gia tăng cao. Trong khi đa phần các doanh nghiệp công nghiệp của tỉnh lại đang ở quy mô vừa và nhỏ, thiếu năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh. Mặc dù các doanh nghiệp đã có sự đổi mới về công nghệ nhưng hầu như chưa tạo được sự đột phá. Sản phẩm được sản xuất ra chủ yếu là sản phẩm thô, sơ chế nên phụ thuộc rất lớn vào sự biến động về giá cả và nhu cầu của thị trường, vì vậy, hiệu quả kinh tế mang lại thiếu tính bền vững…

Đặc biệt, trong quý I, một số sản phẩm công nghiệp trên địa bàn vẫn đang gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu, dẫn đến sản lượng giảm rõ rệt so với cùng kỳ. Đơn cử như: Cồn tinh luyện giảm 59%; ván MDF giảm 13%; bàn ghế, giường tủ bằng gỗ các loại giảm 25,6%; mủ cao su giảm 27%; hạt điều nhân giảm 51,5%… Ngoài ra, một số lò gạch thủ công ở huyện Krông Nô đã ngừng hoạt động theo lộ trình và nhà máy sản xuất gạch của Công ty cổ phần Tài chính AST, xã Đắk Ha (Đắk Glong) hiện đang tạm ngưng hoạt động (do tiêu thụ khó khăn) đã làm cho sản lượng gạch sản xuất giảm so với trước…

Để phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh ước đạt 2.406,4 tỷ đồng trong quý II, ngành Công thương sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cho doanh nghiệp. Đơn vị sẽ phối hợp với các cấp, ngành kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh và triển khai thực hiện dự án, khắc phục tình trạng chậm trễ về tiến độ, gây lãng phí nguồn lực xã hội.

Ngoài ra, trong các chương trình hỗ trợ, ngành sẽ tập trung cho các hoạt động khuyến công, xúc tiến thương mại. Qua đó kịp thời giúp các thành phần kinh tế tích cực đầu tư, cải tiến công nghệ, trang thiết bị, đổi mới mẫu mã, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Khi chi phí sản xuất giảm sẽ góp phần tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm công nghiệp của tỉnh trên thị trường trong nước và ngoài nước…

Bài, ảnh: Lê Dung

Cơ hội để “nâng tầm” cây bơ Ðắk Nông

Phóng viên (PV) Báo Đắk Nông có cuộc trao đổi với ông Lê Trọng Yên, Giám đốc Sở Nông nghiệp-PTNT, thành viên tháp tùng đoàn tham gia chuyến thăm tại New Zealand về một số vấn đề xung quanh nội dung thỏa thuận hợp tác này.

Ông Lê Trọng Yên, Giám đốc Sở Nông nghiệp – PTNT

PV: Qua chuyến thăm và thực hiện ký kết thỏa thuận tại New Zealand vừa rồi, ông đánh giá như thế nào về cơ hội của cây bơ Đắk Nông?

Ông Lê Trọng Yên: Phải khẳng định rằng, rất vinh dự cho tỉnh Đắk Nông, một trong những địa phương được Cơ quan Hợp tác Chính phủ New Zealand (G2G), Viện Nghiên cứu Cây trồng và Thực phẩm và Công ty cổ phần SAM Nông nghiệp công nghệ cao (Samagritech) lựa chọn làm đối tác. Đây là một trong những cơ hội, lợi thế để chúng ta xác định được một cây trồng, ngành hàng chủ lực của tỉnh. Thực tế, với địa hình, thổ nhưỡng của tỉnh Đắk Nông rất phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó có cây bơ. Hiện nay, tổng diện tích bơ trong toàn tỉnh vào khoảng hơn 1.500 ha. Trong đó, có hơn 300 ha diện tích bơ được trồng chuyên canh, còn lại là trồng xen với các loại cây trồng khác như tiêu, cà phê. Qua các đợt khảo nghiệm, thử nghiệm, cũng như những kết quả đạt được trong các năm qua cho thấy, tỉnh Đắk Nông rất có lợi thế để phát triển các giống bơ như: Bơ 34, bơ 36, bơ booth, bơ Hass… Thông qua chương trình ký kết này, đối tác sẽ hỗ trợ nguồn kinh phí lên đến hàng chục tỷ đồng để nghiên cứu, lựa chọn, đầu tư phát triển cây bơ tại tỉnh Đắk Nông. Từ đây, chúng ta có thể hi vọng, trong thời gian không xa nữa, cây bơ Đắk Nông sẽ có cơ hội phát triển trên thị trường trong và ngoài nước.

PV: Thực chất nội dung của thỏa thuận và lộ trình thực hiện thỏa thuận ký kết là như thế nào? Thưa ông?

Ông Lê Trọng Yên: Vâng! Trước hết, mục đích của nội dung ký kết là để xác định được thương hiệu cây bơ của Đắk Nông. Theo thỏa thuận ký kết, các đối tác sẽ nghiên cứu, chọn lọc giống bơ phù hợp với điều kiện, thổ nhưỡng của tỉnh Đắk Nông, cũng như về lâu dài sẽ bảo đảm chất lượng sản phẩm đầu ra. Về khâu chọn lọc, các đối tác sẽ tiến hành chọn lọc những giống bơ mà hiện nay thị trường thế giới đang ưa chuộng, đặc biệt là giống bơ Hass (nhu cầu thị trường thế giới cần hơn 80%). Đối với Đắk Nông, từ năm 2014, giống bơ Hass này đã được người dân đưa vào trồng thử nghiệm và thâm canh. Hiện tại, diện tích giống bơ này chủ yếu phát triển ở vùng Đắk Mil. Qua quá trình thử nghiệm, một số mô hình đã mang lại hiệu quả và cho tín hiệu đáng mừng. Giống bơ này hiện nay đã xuất hiện ở các siêu thị trong và ngoài tỉnh. Cùng với việc chọn lọc, nghiên cứu giống bơ phù hợp, có giá trị kinh tế cao, được thị trường thế giới ưa chuộng đưa vào thử nghiệm, đối tác cũng cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra cho các sản phẩm bơ.

Về lộ trình, sau khi ký kết, các đối tác cùng với chính quyền địa phương sẽ xây dựng một dự án chi tiết để triển khai các ký kết của hợp đồng. Hiện tại, các bên tham gia đã họp lại để xem xét nội dung, cũng như có những điều chỉnh phù hợp liên quan đến các mô hình thử nghiệm, kinh phí, vấn đề chuyên gia trong và ngoài nước… Dự kiến, chương trình ký kết sẽ được triển khai từ tháng 6/2018. Quan trọng hơn, lộ trình này không chỉ thực hiện trong năm 2018 mà có thể kéo dài đến năm 2020. Các bên tham gia cùng với chính quyền địa phương sẽ thực hiện một số mô hình thử nghiệm, xây dựng khu quản lý giống, viện nghiên cứu giống bơ để triển khai ở một số Khu Nông nghiệp Công nghệ cao của tỉnh. Trong các chương trình thử nghiệm, các bên tham gia sẽ tiến hành nhân rộng, tìm ra vị trí địa lý, địa chất để phát triển cây bơ có giá trị kinh tế cao tại vùng, tiểu vùng của Đắk Nông.

PV: Có thể nói trước những cơ hội, song cũng không loại trừ thách thức, những rủi ro khác của thị trường đối với sản phẩm bơ Đắk Nông, vậy với tư cách là người đứng đầu ngành Nông nghiệp-PTNT, ông có những khuyến cáo gì đối với người trồng bơ trên địa bàn tỉnh?

Ông Lê Trọng Yên: Đối với vấn đề khuyến cáo người trồng bơ thì không phải đến lúc này ngành chức năng mới nghĩ đến, mà chúng tôi đã thực hiện từ trước đến nay rồi. So với Đắk Nông, với diện tích hơn 1.500 ha bơ thì đây là con số không phải ít. Để tránh tình trạng phải “giải cứu”, cũng như phá vỡ quy hoạch sau này, trước hết, chúng tôi khuyến cáo người trồng bơ cẩn trọng khi lựa chọn nguồn giống. Đối với các giống bơ chưa được chứng nhận, không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng của các đơn vị nghiên cứu, bà con không nên đưa vào thâm canh. Người dân phải thường xuyên theo dõi nhu cầu thị trường trong, ngoài nước như thế nào để tập trung thâm canh, tránh sự phát triển ồ ạt, không theo quy hoạch. Ngành chức năng cũng vận động, khuyến khích người dân không nên trồng thuần một giống bơ, mà có thể trồng xen nhiều giống bơ với nhau. Trong sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, người dân nên hạn chế sử dụng các sản phẩm hóa học mà thiên về sử dụng các loại sản phẩm phân bón, thuốc trừ sâu hữu cơ, vi sinh. Cùng với việc khuyến cáo, Sở Nông nghiệp-PTNT sẽ tiến hành giám sát chặt chẽ trong khâu kiểm soát giống, cũng như quy trình sản xuất của người dân.

PV: Tỉnh ta sẽ có những giải pháp gì để “nâng tầm” cây bơ của Đắk Nông trong thời gian tới, thưa ông?

Ông Lê Trọng Yên: Trước mắt, chúng tôi sẽ tham mưu UBND tỉnh tập trung vào khâu quy hoạch để phát triển cây bơ tại những vùng, tiểu vùng phù hợp với cây trồng này. Cùng với công tác quy hoạch, địa phương sẽ xem xét xây dựng một chính sách hỗ trợ cho những người dân trồng bơ theo đúng diện tích quy hoạch. Vấn đề tiến tới xây dựng, quảng bá thương hiệu cây bơ thông qua các hội thảo, hội nghị sẽ được tỉnh chú trọng nhiều hơn. Về khâu chế biến, tỉnh sẽ tiếp tục phát triển, chế biến quả bơ đa dạng, tập trung chế biến sâu các sản phẩm từ quả bơ.

Song song vấn đề quy hoạch, xây dựng, quảng bá thương hiệu, có 3 vấn đề cần tập trung quan tâm giải quyết đó là quy trình sản xuất về kỹ thuật, thị trường và doanh nghiệp. Hay nói đúng hơn, nhà nước phải đứng ra tạo được sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà trong quy trình sản xuất. Muốn được như vậy, về phía nhà nước sẽ tiến tới xây dựng nhiều cơ chế, chính sách. Người nông dân phải có nhận thức đúng, phối hợp tốt trong sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp sạch. Quan trọng nữa là tạo ra chuỗi giá trị, mà trong đó, doanh nghiệp phải đứng ra làm “bà đỡ”. Trong thời gian tới, việc tiên phong trong thực hiện liên kết các nhà sẽ được chúng tôi tham mưu cho UBND tỉnh có lộ trình, chương trình cụ thể. Thông qua việc liên kết, toàn tỉnh sẽ xuất hiện nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác, những người nông dân đồng sở thích về một loại cây trồng để hướng dẫn nhau về quy trình sản xuất. Từ đây, không chỉ tạo ra những sản phẩm bơ có giá trị, ổn định về nguyên liệu, mà giá trị cạnh tranh trên thị trường đối với cây bơ Đắk Nông sẽ cao hơn.

PV: Cảm ơn ông!

Nguyễn Lương thực hiện

Bài học từ cây hồ tiêu rớt giá: Nông dân cần thay đổi cách nghĩ, cách làm

Những năm qua, khi giá hồ tiêu đạt ở mức cao, người dân ồ ạt mở rộng diện tích, bất chấp các khuyến cáo của ngành Nông nghiệp, chính quyền địa phương. Diện tích lớn nhưng khả năng đầu tư kỹ thuật vào canh tác không đồng đều giữa các hộ, các vùng, dân tộc đã gây khó khăn cho quá trình nâng cao giá trị ngành hàng hồ tiêu Đắk Nông.

Liên kết sản xuất hồ tiêu hữu cơ đã mang lại hiệu quả cao cho xã viên Hợp tác xã Hồ tiêu hữu cơ Đồng Thuận, xã Nhân Cơ (Đắk R’lấp)

Thua lỗ vì sản xuất theo phong trào

Trong vụ thu hoach hồ tiêu năm nay, về thăm những vùng có diện tích tiêu lớn trong tỉnh, chứng kiến một vụ thu hoạch buồn mới thấy được nỗi khổ của nông dân. Nhất là những hộ nông dân chỉ trồng độc canh cây tiêu và những hộ vay ngân hàng để đầu tư, mở rộng diện tích hồ tiêu.

Những năm 2012 về trước, ông Trần Văn Quốc ở xã Nâm N’Jang (Đắk Song), có 4 ha hồ tiêu. Nhớ lại những năm đó, ông Quốc cho hay: Vào thời điểm cây tiêu được mùa, được giá, gia đình ông mỗi vụ trừ tất cả chi phí cũng thu về trên 1,5 tỷ đồng.

Sau mấy năm trồng tiêu, ông Quốc đã gửi vào ngân hàng hơn 12 tỷ đồng. Những năm sau đó, giá cả hồ tiêu liên tục ổn định ở mức cao, thấy nhiều người trong vùng ồ ạt mở rộng diện tích, ông Quốc cũng nôn nóng làm theo. Sẵn số tiền dành dụm gửi ở ngân hàng, ông không ngại ngần rút ra để mua đất. Ban đầu mua đất gần nhà, sau đó ông mua sang các xã lân cận như Trường Xuân, Đắk Rung, Đắk Môl… nghe ở đâu có bán đất là ông đến “đổ tiền” ra mua.

Nói về ngày bị cây tiêu mê hoặc, ông Quốc chua chát giải bày: “Tôi đổ gần hết số tiền dành dụm được ra mua đất, khi tiêu “sốt giá” mỗi ha đất bình thường chẳng trồng được cây gì nhưng lúc ấy người ta bán với giá từ 200 – 300 triệu đồng. Đâu phải mua đất không đâu. Muốn đầu tư hoàn chỉnh cho một vườn tiêu, mỗi ha phải chi ngót ngắc cỡ 400 – 500 triệu đồng nữa”.

Tuy nhiên, với hơn 10 ha đất trồng tiêu mới đây của ông Quốc thì chỉ có 3 – 4 ha mới cho thu bói, còn lại đều mới trồng. Điều đáng nói là sau khi dốc hết 12 tỷ đồng đầu tư trồng tiêu, hiện giờ ông Quốc nợ lại của ngân hàng 4 tỷ đồng. Với gia cảnh như thế này không biết mấy năm nữa ông mới trả được nợ.

Cũng như ông Quốc, gia đình bà Trương Thị Nhân ở xã Đắk N’drung cũng lâm vào cảnh nợ nần do chạy theo cây tiêu.

Từng một thời được ví như “vàng đen”, đến nay, hồ tiêu bất ngờ rớt giá một cách thê thảm, khiến cho nhiều người muốn bỏ vườn. Bởi, với 54.000 đồng/kg, những vườn tiêu tốt thì thu hoạch hòa vốn, còn vườn tiêu mất mùa, khó hái thì thu hoạch không đủ tiền trả cho nhân công. Đó là những hộ chỉ việc trả tiền thuê người hái còn so với tiền vay ngân hàng để đầu tư thì coi như không còn khả năng.

Thu nhập ổn định từ làm tiêu hữu cơ

Trong khi đại đa số người trồng tiêu trên địa bàn tỉnh lao đao vì giá tiêu giảm sâu thì có một số xã viên Hợp tác xã (HTX) tiêu hữu cơ Đồng Thuận đứng chân trên địa bàn thôn 6, xã Nhân Cơ (Đắk R’lấp) nhờ sản xuất tiêu theo hướng hữu cơ nên vẫn bán được tiêu với mức giá cao gấp đôi tại thời điểm này. Bởi, thay vì sử dụng phân, thuốc hóa học, bà con chỉ sử dụng phân chuồng, phân hữu cơ nên không chỉ giảm đáng kể chi phí sản xuất mà giá bán cũng cao hơn.

Theo ông Đào Duy Hải, Giám đốc HTX Hồ tiêu hữu cơ Đồng Thuận thì việc sản xuất hồ tiêu theo hướng hữu cơ không thể đạt tuyệt đối về năng suất như trước (từ 8 – 12 tấn/ha). Nhưng bù lại vườn cây ít nhiễm bệnh, năng suất luôn giữ mức ổn định, trung bình đạt từ 3 – 4 tấn, chăm sóc tốt đạt từ 5 tấn trở lên. Hiện nay, sau khi thực hiện xong các công đoạn sau thu hoạch như: Phơi, sấy, đóng bao bì bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, sản phẩm hồ tiêu của HTX được công ty liên kết thu mua với giá 130.000 đồng/kg, cao hơn 76.000 đồng/kg so với giá tiêu chung.

Sản xuất tiêu hữu cơ được ông Đào Duy Hải, Giám đốc HTX Hồ tiêu hữu cơ Đồng Thuận từng bước nghiên cứu, áp dụng chuyên sâu hơn

Ông Hải cho biết: “HTX Đồng Thuận đã trải qua 8 năm sản xuất tiêu theo hướng hữu cơ. Nhiều năm nay, chúng tôi không lạm dụng phân bón hóa học và thuốc BVTV để chăm sóc vườn tiêu nữa mà chủ yếu sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ như: Phân bò, phân cá ủ hoai, thuốc trị nấm bệnh sinh học…”. Do đó, hiện trên 20 ha hồ tiêu của bà con HTX đều tuân thủ sản xuất đúng quy trình và được giám sát nghiêm ngặt.

Với hướng đi là không chạy theo số lượng về diện tích, năng suất mà tập trung vào chất lượng, thực hành nông nghiệp tốt, thân thiện môi trường nên sản phẩm hồ tiêu của HTX Đồng Thuận được đánh giá cao ở thị trường EU, Nhật Bản…

Người dân bon Me Ra, xã Đắk R’tíh (Tuy Đức) chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc hồ tiêu. Ảnh:  Minh Huyền 

Giải pháp để cây tiêu phát triển bền vững

Cây hồ tiêu là cây trồng có hiệu quả kinh tế, phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, tuy nhiên đòi hỏi người sản xuất phải có kinh nghiệm và kỹ thuật. Theo định hướng đến năm 2020, tỉnh Đắk Nông ổn định diện tích hồ tiêu khoảng gần 10.000 ha, sản lượng gần 19.000 tấn/năm, nhưng thực tế năm 2017, diện tích trồng tiêu trên địa bàn tỉnh đã đạt trên 31.000 ha, sản lượng 37.000 tấn đã phá vỡ định hướng chung của tỉnh.

Trước thực tế đó, tỉnh Đắk Nông đang thực hiện nhiều giải pháp để phát triển ngành hồ tiêu bền vững. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến rà soát, quản lý quy hoạch vùng sản xuất hồ tiêu gắn với vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; thực hiện sản xuất hồ tiêu sinh học, hữu cơ gắn với chế biến sâu để nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm.

Theo bà Hoàng Ngọc Duyên, Chi cục phó Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp – PTNT), ngành Nông nghiệp đang cùng với các địa phương tích cực vận động, tuyên truyền bà con ổn định sản xuất, không chạy theo giá cả thị trường làm phá vỡ quy hoạch chung; xây dựng các tiêu chuẩn sản xuất giống, tiến hành công nhận cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng nhằm bảo đảm sản xuất giống có nguồn gốc, sạch bệnh. Đồng thời, tỉnh cũng sẽ thực hiện đồng bộ các chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở chế biến; các mô hình chuyển giao kỹ thuật và thu hút đầu tư, tạo mối liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế. Việc đăng ký mẫu mã và xây dựng thương hiệu để tăng khả năng cạnh tranh các sản phẩm hồ tiêu là giải pháp bảo đảm tính lâu dài mà tỉnh sẽ triển khai.

Bài, ảnh: Văn Tâm

Từ đói nghèo, lạc hậu, Nam Bình trở thành xã năng động, phát triển

Quốc lộ 14 đi qua địa bàn là điều kiện để Nam Bình phát triển thương mại, dịch vụ

Đời sống người dân được cải thiện

Theo lãnh đạo địa phương, hiện toàn xã có hơn 2.980 hộ dân với 11.127 khẩu. Ngày mới thành lập, xã Nam Bình có xuất phát điểm thấp, cuộc sống của người dân gặp muôn vàn khó khăn. Trên cơ sở xác định thế mạnh của mình, Đảng bộ, chính quyền địa phương đã vận động bà con mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Phong trào thi đua sản xuất ngày càng phát triển mạnh mẽ, nên đời sống của người dân không ngừng được nâng cao.

Điển hình như gia đình bà Trần Thị Dứa ở thôn 8 đã liên kết với Công ty cổ phần CP chăn nuôi heo. Trung bình  cứ 4 tháng, gia đình bà Dứa lại xuất bán hàng nghìn con heo thịt, mang về nguồn thu nhập lớn. Bà Dứa cho biết: “Trước đây, gia đình nuôi heo theo kiểu tự phát, nhỏ lẻ nên gặp nhiều khó khăn về đầu ra và bị thương lái ép giá. Khi gia đình bắt tay với doanh nghiệp, việc làm ăn gặp nhiều thuận lợi hơn, không phải lo nghĩ về đầu ra, giá cả lại ổn định. Hàng năm, gia đình tôi đều có nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng”.

Tương tự, gia đình anh Nguyễn Mạnh Tường ở thôn 1 có 3 ha cà phê, hồ tiêu sản xuất theo hướng bền vững, mỗi năm có nguồn thu ổn định khoảng 500 triệu đồng. Anh Tường cho biết: “Ngày trước, vì giao thông đi lại khó khăn nên những sản phẩm làm ra phải chở ra huyện Đắk Mil mới có người mua, thường bị ép giá thấp. Từ khi địa phương đẩy mạnh làm đường giao thông nông thôn, quốc lộ14 được mở rộng, sản phẩm làm ra luôn có người đến tận rẫy thu mua. Không chỉ nhà tôi mà nhiều gia đình khác có điều kiện phát triển sản xuất, tăng thu nhập hơn”.  

Hầu hết các hộ dân ở khu vực thôn 1 trước đây đều khó khăn, có hộ đã bỏ đi nơi khác làm ăn. Thế nhưng, những hộ bám trụ ở lại, với sự chịu khó, cần cù và sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, đến nay hầu hết đã trở nên khấm khá.

Hồ tiêu là một trong những cây trồng thế mạnh của Nam Bình, đem lại thu nhập ổn định cho người dân

Khi hạ tầng được quan tâm

Không chỉ quan tâm phát huy thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, địa phương chú trọng phát triển hạ tầng, phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Theo nhiều người dân kể lại, trước kia muốn mua các loại vật tư, vật dụng phục vụ sản xuất, sinh hoạt hàng ngày phải đi gần 30 cây số ra huyện Đắk Mil. Thế nhưng, hiện nay, trên địa bàn xã đã có chợ cùng nhiều đại lý phân phối, với các nhãn hiệu nổi tiếng đều tập trung về đây, đáp ứng như cầu nhân dân.

Riêng lĩnh vực giáo dục, đào tạo phát triển cả về quy mô và chất lượng; cơ sở trường, lớp được đầu tư xây dựng đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của con em trên địa bàn. Nếu khi mới thành lập, toàn xã chỉ có 1 trường tiểu học thì đến nay đã có 7 trường học kiên cố với đủ 3 cấp học, trong đó có 1 trường đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học được đến trường đạt 98%. Trạm y tế xã được xây dựng đạt chuẩn quốc gia, bảo đảm tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện tốt, góp phần tạo niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

 

Kinh tế phát triển là tiền đề quan trọng để thực hiện tốt công tác thu ngân sách, năm sau cao hơn năm trước. Năm 2017, tổng thu ngân sách của xã đạt 18 tỷ đồng, bảo đảm một phần cho việc tạo nguồn vốn tái đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi xã hội và hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn xã. Bình quân thu nhập đầu người của xã đạt 42 triệu đồng/năm, tăng gấp 22 lần so với ngày mới thành lập. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm xuống dưới 5,5%. 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường. 95% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. 80% đường giao thông nông thôn được nhựa hóa hoặc cấp phối, giúp người dân đi lại và vận chuyển hàng hóa được dễ dàng. Đến nay, xã đã đạt 13/19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới.

 

Những con số ấn tượng

Với việc quan tâm thực hiện đồng bộ các giải pháp, tính đến cuối năm 2017, tăng trưởng kinh tế của xã đạt mức 13%. Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng phát triển mạnh về thương mại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp.

Đến nay, toàn xã có hơn 4.500 ha cây công nghiệp và diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm đạt gần 2.300 ha; năng suất, sản lượng các loại cây trồng không ngừng tăng; riêng năm 2017, sản lượng cà phê nhân đạt 5.700 tấn, hồ tiêu đạt 6.600 tấn. Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 300 tỷ đồng, chiếm 80% tỷ trọng nền kinh tế. Tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và giá trị. Đến nay trên địa bàn xã có 44 công ty, doanh nghiệp, hơn 300 hộ kinh doanh cá thể.  

Theo ông Bùi Văn Tiến, Chủ tịch UBND xã Nam Bình, chính nhờ bàn tay và khối óc của hàng ngàn hộ dân kinh tế mới đã biến xã Nam Bình từ một vùng đất hoang vu, đói nghèo, lạc hậu trở thành một trong những xã có nền kinh tế, xã hội phát triển nhất của huyện. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ hơn nữa các giải pháp, nhất là chú trọng việc khơi dậy sức dân để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Trong đó, địa phương sẽ tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới. Toàn xã phấn đấu đến cuối năm 2018 sẽ đạt 15 tiêu chí và đến 2020 sẽ hoàn thành việc xây dựng nông thôn mới.

Bài, ảnh: Ngọc Dũng – Ngọc Lê

Gia Nghĩa chủ động phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm

Nhân viên thú y thị xã Gia Nghĩa phun thuốc vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại khu vực chợ Tỉnh đội, phường Nghĩa Trung

Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, phần lớn người dân trên địa bàn đã dần nâng cao ý thức, chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh. Gần 1 tháng nay, đều đặn vào mỗi sáng hàng tuần, cán bộ thú y các xã, phường trong thị xã lại đến Trạm Thú y Gia Nghĩa để nhận đồ bảo hộ, trang thiết bị và hóa chất tiêu độc khử trùng. Sau khi trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ, đội phun thuốc lên đường đi phun tại các điểm chợ, khu vực giết mổ tập trung trên địa bàn.

Việc phun hóa chất sát trùng được các chủ quầy hàng đặc biệt ủng hộ. Theo chị Nguyễn Thị Tâm, một tiểu thương buôn bán gia cầm tại chợ Tỉnh đội, thời gian đầu, phần lớn những tiểu thương như chị tỏ ra rất khó chịu vì quầy hàng của mình cứ bị phun hóa chất suốt. Các lồng nhốt gà, vịt thì bị phun ướt hết cả người. Nhưng sau khi hiểu đây chỉ là hóa chất sát trùng giúp ngăn ngừa dịch bệnh phát sinh, những chủ quầy buôn bán gia cầm như chị cảm thấy yên tâm và vui khi nhân viên thú y phun thuốc hay ghé qua hỏi thăm.

Những quầy hàng buôn bán sản phẩm gia cầm được phun thuốc khử trùng rất kỹ lưỡng

Theo ông Lê Đình Công, Trạm trưởng Trạm Thú y Gia Nghĩa, những năm gần đây, công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng môi trường phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn thị xã được các cấp, ngành đặc biệt quan tâm. Năm 2017, thị xã đã triển khai tổng cộng 4 đợt vệ sinh, tiêu độc khử trùng. Trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, thị xã đã ra quân tháng cao điểm tiêu độc khử trùng tại 8/8 xã, phường, trong đó tập trung ở xã Đắk Nia, các phường Nghĩa Trung, Nghĩa Đức, Nghĩa Tân và Nghĩa Thành. Đây là các xã, phường có nhiều điểm chợ trung tâm, chợ tạm, chợ cóc và điểm giết mổ… với nguy cơ phát sinh mầm bệnh cao. Kết thúc tháng cao điểm, Trạm Thú y thị xã và UBND các xã, phường đã tổ chức phun tại 59 điểm, 612 lần phun với tổng lượng hóa chất sát trùng HanIoldine 10% là 48 lít.

Những điểm tập kết rác thải có khả năng chứa mầm bệnh cũng được quan tâm vệ sinh, khử trùng

Trong tháng tiêu độc khử trùng đợt I, năm 2018 (từ ngày 10/3 – 10/4), thị xã Gia Nghĩa sẽ tổ chức phun tại các cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm; các chợ buôn bán gia súc, gia cầm và những sản phẩm động vật và những nơi công cộng. Với số lượng 627 lít hóa chất sát trùng HanIodine 10%, Trạm Thú y dự kiến sẽ phun trên khoảng 1.000 điểm (1 – 2 lượt phun/tháng).

Theo ông Công, thời gian qua, bên cạnh việc đẩy mạnh thực hiện vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại những khu vực có nguy cơ phát sinh dịch bệnh cao, các phòng ban của thị xã cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động. Nhờ vậy, những hộ gia đình chăn nuôi, buôn bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn đã nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc chủ động triển khai các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh.

Bài, ảnh: Lê Phước

Phấn đấu đạt và vượt kế hoạch sản xuất các sản phẩm chủ lực

Sản xuất cửa nhôm, nhựa tại Công ty TNHH Tư vấn đầu tư xây dựng DTP (Gia Nghĩa)

Nhiều chỉ tiêu tăng khá

Theo đánh giá của UBND tỉnh, trong quý I, tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh 3 tháng đầu năm đạt khoảng 3.013 tỷ đồng, đạt 18% kế hoạch, tăng 7,34% so với cùng kỳ. Đây là con số khá cao, ghi nhận nền kinh tế giữ mức phát triển ổn định với sự đóng góp của các ngành, lĩnh vực chủ lực như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ…  

Khu vực nông, lâm nghiệp có tỷ trọng tăng trưởng cao nhất trong tổng sản phẩm (GRDP) của tỉnh, với mức tăng 8,74%, trong đó chăn nuôi có mức tăng khá cao. Mặc dù trâu bò, heo có giảm về tổng đàn nhưng đàn dê, gia cầm lại tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2017. Vì vậy, trong quý 1, tổng lượng thịt gia súc, gia cầm xuất chuồng toàn tỉnh tăng 3.350 tấn so với cùng kỳ. Ở lĩnh vực thủy sản, do đang ở mùa khô, lượng nước trong các ao, hồ, sông, suối giảm nên thuận tiện cho việc khai thác và đánh bắt cá.

Trong quý, sản lượng thủy sản toàn tỉnh tăng cao, khoảng 1.598 tấn, đạt 33% kế hoạch. Mặc dù tiến độ chưa đạt so với kế hoạch nhưng lĩnh vực trồng trọt cũng đang ghi nhận có sự phát triển ổn định nhờ các cấp, ngành, địa phương và nhân dân tăng cường công tác khuyến nông, bảo vệ thực vật, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Đến nay, toàn tỉnh đã hoàn thành việc gieo trồng 9.309 ha cây trồng vụ đông xuân. Tình hình sâu bệnh trên cây trồng được kiểm soát.

Khu vực công nghiệp cũng có sự tăng trưởng mạnh với sự góp mặt của một số mặt hàng, lĩnh vực mới. Trong quý, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn tỉnh tăng 11,7% so với cùng kỳ. Đáng chú ý trong quý, Nhà máy sản xuất ván công nghệ cao Bison (Đắk Song) đã bắt đầu sản xuất thử nghiệm và cho sản phẩm. Cùng với đó, Nhà máy Alumin Nhân Cơ (Đắk R’lấp) tiếp tục hoạt động ổn định và tăng trưởng theo kế hoạch.

Trong quý I, các khu công nghiệp trên địa bàn đã thu hút được 37 dự án đầu tư, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 17,7 nghìn tỷ đồng, vốn thực hiện 1,8 nghìn tỷ đồng. Trong đó, 30 dự án đang hoạt động, 5 dự án đang xây dựng cơ bản, 1 dự án chậm tiến độ và 1 dự án ngừng hoạt động. Tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp Tâm Thắng là 80,7%; Khu công nghiệp Nhân Cơ là 86,5%…

Các lĩnh vực kinh tế khác cũng có sự tăng trưởng tích cực. Trong đó, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ trên địa bàn trong quý I đạt 3.460 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu đạt 273 triệu USD, tăng 34% so với cùng kỳ. Thu ngân sách nhà nước quý I thực hiện được 500 tỷ đồng, đạt 27% dự toán Trung ương, 25% dự toán HĐND tỉnh và tăng 18% so với cùng kỳ năm trước…

Chế biến mủ cao su tại Công ty Cao su Daknoruco (Đắk Mil)

Tập trung thực hiện các giải pháp trọng tâm

Để phấn đấu đạt được chỉ tiêu, kế hoạch đề ra, tỉnh đã xây dựng và chỉ đạo các ngành, các cấp tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong quý II.

Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các ngành chức năng cần tăng cường hơn nữa việc huy động nguồn thu, kiểm soát chặt chẽ chi tiêu, tăng cường quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Về thu ngân sách, nhiều giải pháp thu thuế, phí, lệ phí được triển khai với mục tiêu bảo đảm thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật. Đơn vị chức năng sẽ chủ động rà soát, nắm chắc các nguồn thu và đối tượng nộp thuế trên địa bàn, phấn đấu vượt thu các lĩnh vực, ngành nghề có điều kiện tăng thu.

Việc quản lý hoạt động chi ngân sách được tỉnh quan tâm thắt chặt, nhằm thực hiện cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương. Các cuộc họp, hội nghị sẽ được giảm tối đa và tổ chức theo hình thức trực tuyến. Các dự án khởi công mới trong năm 2018 khẩn trương hoàn thành hồ sơ để kịp thời giải ngân vốn, bảo đảm tiến độ thi công…

Bên cạnh đó, việc cải thiện môi trường sản xuất, kinh doanh cũng được tỉnh chú trọng hơn nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, phát triển. Đặc biệt, tỉnh sẽ tập trung thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhằm giảm phiền hà, chi phí và tiết kiệm thời gian cho các doanh nghiệp trong việc thành lập, tiếp cận đất đai, đầu tư, xây dựng, kê khai thuế…

Phát biểu tại Hội nghị đánh giá tình hình kinh tế, xã hội quý I và triển khai nhiệm vụ quý II, năm 2018 tổ chức vừa qua, đồng chí Nguyễn Bốn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Chủ tịch UBND các huyện cần giao cho các phòng, ban nắm kỹ và gặp gỡ các chủ dự án đầu tư trên địa bàn, để kịp thời tìm cách tháo gỡ khó khăn. Các huyện cần tổ chức định kỳ đối thoại giữa chính quyền địa phương với các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn để tạo động lực mới cho doanh nghiệp.

Bài, ảnh: Lê Dung