Giúp hội viên, nông dân nâng cao kiến thức, tiếp cận nguồn vốn

Nông dân được hỗ trợ kỹ thuật trồng, chăm sóc cà phê đã nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế

Theo đó, hoạt động dịch vụ về vốn, vật tư  nông nghiệp được triển khai sâu rộng đến các cơ sở đã giúp nông dân tổ chức sản xuất kịp thời vụ, mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình. Trong đó, các cấp hội đã chủ động phối hợp với các công ty triển khai cho hội viên, nông dân đăng ký mua trên 1.170 tấn phân bón theo phương thức trả chậm.

Hội Nông dân tỉnh tổ chức đưa đoàn cán bộ, hội viên tham quan Nhà máy sản xuất phân bón Komix tại tỉnh Bình Dương, Công ty Cổ phần Thiên Sinh tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Nhà máy sản xuất phân bón của Công ty TNHH Sông Hậu tại tỉnh Ninh Thuận.

Hoạt động hỗ trợ nông dân về tiếp nhận các tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng được chú trọng. Hội Nông dân tỉnh phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ khảo sát, triển khai các mô hình thử nghiệm như trồng cây Sachi inchi tại hộ ông Nguyễn Văn Khang ở thôn 8, xã Đắk Búk So (Tuy Đức); hướng dẫn thành lập Hợp tác xã trồng và chăm sóc xoài theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Đắk Gằn (Đắk Mil); tập huấn, hỗ trợ mô hình hợp tác sản xuất, chế biến, sản phẩm xoài bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thời gian qua, hội viên, nông dân cũng được tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận các nguồn vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Điển hình, thông qua nhận ủy thác của hệ thống Chi nhánh Ngân hàng Chính sách và Xã hội tỉnh, hiện nay, hội viên, nông dân trong tỉnh vay vốn phục vụ sản xuất với tổng số dư nợ trên 646,178 tỷ đồng, với 18.696 lượt hộ vay thuộc 15 chương trình tín dụng cho vay. Qua kiểm tra, giám sát, phần lớn hội viên, nông dân đã sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, phục vụ phát triển sản xuất, giảm nghèo hiệu quả, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, Quỹ hỗ trợ nông dân các huyện, thị xã cũng được thành lập, kiện toàn bộ máy. Tổng Quỹ hỗ trợ nông dân toàn tỉnh đạt trên 33 tỷ đồng. Tính đến nay, nguồn vốn Quỹ hỗ trợ nông dân Trung ương và tỉnh ủy thác cho các huyện, thị xã thông qua 60 dự án trên 19 tỷ đồng, với 626 lượt hộ vay, giải quyết việc làm cho hơn 650 lao động. Trong đó, tỷ lệ dự án đầu tư cho trồng trọt chiếm 70%, chăn nuôi chiếm 30%. Nguồn vốn cấp huyện giải ngân 58 dự án trên 11 tỷ đồng, với 436 lượt hộ nông dân vay vốn sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, tạo công ăn việc làm cho 500 lao động tại địa phương.

Hiện nay, Hội Nông dân tỉnh và các cấp hội cơ sở đang phối hợp với các ngân hàng thương mại tổ chức triển khai thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ. Quỹ hỗ trợ nông dân tỉnh tổ chức vận động các cá nhân, đơn vị ủng hộ để tăng nguồn vốn nhằm tạo điều kiện cho nhiều nông dân được hưởng lợi.

Cùng với phối hợp với các công ty, doanh nghiệp triển khai cung ứng phân bón, vật tư nông nghiệp cho hội viên, nông dân theo phương thức trả chậm, Hội Nông dân tỉnh đẩy mạnh các hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân. Trong đó, Hội đang tập trung thực hiện các hạng mục của Dự án cải tiến nâng cao chất lượng đàn bò thịt tại huyện Đắk Song.

Bài, ảnh: Thanh Nga

Tổng doanh số cho vay trong 7 tháng được hơn 450 tỷ đồng

Thông qua nguồn vốn vay, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho 1.025 lao động, giúp hơn 4.560 hộ sống ở vùng nông thôn được cải tạo, sửa chữa, xây dựng mới công trình nước sạch, nhà vệ sinh hợp chuẩn và hơn 3.000 hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn được vay vốn.

Nguồn vốn ưu đãi đã đến đúng đối tượng, địa chỉ, qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào chính sách tín dụng ưu việt, góp phần vào việc phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn.

Nguyễn Lương

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi: Góp phần ổn định cuộc sống cho nhiều hộ dân tộc thiểu số

Đồng bào ở bon Bu Pah, xã Trường Xuân (Đắk Song) trồng cây hồ tiêu trên trụ sống để phát triển kinh tế bền vững. Ảnh: Y Sơn

Khi nguồn vốn tín dụng ưu đãi “gõ cửa”

Nhiều năm trước, mặc dù đã thoát nghèo nhưng khó khăn vẫn cứ đeo bám gia đình bà H’Bơng, ở thôn 2, xã Đắk Búk So (Tuy Đức). Kinh tế eo hẹp nên việc làm sao để lo đủ bữa ăn, trang trải cho con cái học hành đối với gia đình bà đã khó chứ chưa nói đến phát triển kinh tế để ổn định cuộc sống.

Đầu năm 2015, gia đình bà được bình xét vào danh sách các hộ vay vốn theo Chương trình cho vay hộ cận nghèo từ NHCSXH huyện. Với số vốn được vay 45 triệu đồng, gia đình bà H’Bơng đã mua 4 con bò về nuôi. Nhờ chăm sóc tốt, cũng như tận dụng nguồn thức ăn dồi dào tại địa phương, đàn bò của gia đình bà phát triển khỏe mạnh. Trung bình mỗi năm, đàn bò con sinh sản thêm được từ 2 đến 3 con bê.

Bà H’Bơng chia sẻ: “Hằng năm, số tiền thu được từ việc bán bò, một phần gia đình dành trang trải cuộc sống, lo cho con cái ăn học, phần nữa đầu tư chuồng trại để phát triển đàn bò. Hiện nay, ngoài số lượng bò đã bán đi mỗi năm, trong chuồng bò của gia đình luôn duy trì từ 7 đến 8 con. Gia đình sẽ cố gắng chăm sóc, phát triển đàn bò để vừa có nguồn thu nhập ổn định, vừa trả được nợ ngân hàng khi đến kỳ hạn”.

Cũng nhờ nguồn vốn từ Chương trình cho vay hộ sản xuất kinh doanh vùng khó khăn do NHCSXH triển khai mà gia đình ông Y K’Riêng, ở bon Phai Kol, xã Đắk Nia (Gia Nghĩa) đã có thêm kinh phí để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Được biết, cuối năm 2016, gia đình ông được vay 50 triệu đồng từ NHCSXH địa phương để đầu tư vào gần 1 ha hồ tiêu. Có vốn, ông đầu tư hệ thống ống tưới, phân bón chất lượng tốt để chăm sóc cây tiêu. Cùng với đó, ông cập nhật thêm cách chăm sóc khoa học, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên vườn tiêu của gia đình phát triển tốt, không có sâu bệnh và cho năng suất khá cao.

Ông Y K’Riêng cho biết: “Trước đây, khi chưa được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ NHCSXH, gia đình tôi có đi vay vốn ngân hàng thương mại, chịu lãi suất cao nên làm không có lãi. Vì vậy khó khăn cứ đeo bám mãi, không dứt ra được. Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, đưa nguồn vốn ưu đãi đến tận cơ sở, giúp cho gia đình tôi, cũng như nhiều hộ dân khác ở địa phương mở rộng sản xuất, chăn nuôi để vươn lên thoát nghèo và chăm lo con cái học hành đến nơi đến chốn”.

Theo Chi nhánh NHCSXH tỉnh, thông qua việc triển khai các chương trình tín dụng chính sách trong hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đến nay, toàn tỉnh đã có hơn 36.270 hộ đồng bào dân tộc thiểu số được vay vốn ưu đãi, chiếm 85% hộ đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh, với tổng dư nợ lên đến hàng trăm tỷ đồng.

Nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở bon D’Ru, thị trấn Đắk Mâm (Krông Nô) được vay vốn từ NHCSXH để chăn nuôi bò

Ưu tiên các hộ vùng sâu, vùng xa

Trong những năm qua, nguồn vốn tín dụng chính sách ưu đãi đã góp phần không nhỏ trong công tác xóa đói giảm nghèo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa. Trong tổng số hơn 36.270 hộ đồng bào dân tộc thiểu số được vay vốn ưu đãi từ NHCSXH, có trên 70% là hộ dân thuộc các xã vùng sâu, vùng xa.

Theo Chi nhánh NHCSXH tỉnh, hằng năm, căn cứ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội được giao, cũng như dựa trên cơ sở đề án được UBND tỉnh phê duyệt, số liệu điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo từng địa bàn, đơn vị có kế hoạch phân bổ nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội cho phù hợp. Trong đó, chi nhánh luôn ưu tiên phân bổ nguồn vốn cho các địa bàn có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Đơn vị phối hợp với các địa phương, tổ chức chính trị, xã hội giải ngân kịp thời, đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất cho các hộ gia đình.

Bên cạnh đó, các phòng giao dịch NHCSXH ở địa phương còn phối hợp, làm tốt công tác khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, vận động người dân mạnh dạn vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất. Các đơn vị tăng cường kiểm tra việc sử dụng vốn vay, bảo đảm vốn tín dụng chính sách sử dụng đúng mục đích, mang lại hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo tại các địa bàn.

Với cách thức, thủ tục vay vốn đơn giản, mạng lưới hoạt động của chi nhánh được phủ rộng đến 100% các thôn, bon, qua đó, giúp cho các hộ dân ở vùng sâu, vùng xa tiếp cận kịp thời các chính sách, chương trình cho vay ưu đãi của Đảng, Nhà nước. Từ đây, nguồn vốn ưu đãi đã tác động toàn diện đến mọi mặt của đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng vào mục tiêu giảm nghèo, tạo việc làm, xây dựng nông thôn mới…

Cán bộ NHCSXH huyện Đắk Mil kiểm tra việc sử dụng vốn vay tại hộ gia đình ở bon R’la, xã Đắk N’Drót (Đắk Mil)

Tăng cường phối hợp, lồng ghép với các chương trình, dự án

Hiện nay, trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số tại một số địa bàn còn hạn chế. Bà con chưa biết cách tổ chức sản xuất, sắp xếp cuộc sống, thiếu tích lũy về vốn. Trong khi công tác chỉ đạo phối hợp lồng ghép các chương trình dự án trên địa bàn chưa phát huy hiệu quả cao… đã ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng chính sách.

Tại phiên họp Ban đại diện hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh diễn ra vào tháng 7/2018, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH tỉnh Nguyễn Bốn nhấn mạnh: Mặc dù tín dụng chính sách trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số thời gian qua đã có tác dụng, nhưng để vốn tín dụng thực sự giúp bà con thoát nghèo bền vững thì cần nhiều hơn những yếu tố khác, chứ không chỉ dừng lại ở việc giúp bà con có “chiếc cần câu”. Để nâng cao hiệu quả trong thực hiện chương trình tín dụng chính sách xã hội, cùng với việc tạo điều kiện cho bà con được vay vốn ưu đãi, NHCSXH tỉnh cần xây dựng kế hoạch phối hợp với các cấp, ngành triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể từng địa phương. Các địa phương cần đẩy mạnh chương trình khuyến nông, hỗ trợ xây dựng các mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho kinh tế hộ để người nghèo, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số dễ tiếp cận và tham gia.

Ông Đào Thái Hòa, Giám đốc Chi nhánh NHCSXH tỉnh cho biết: thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tín dụng chính sách, trong đó, tập trung vào các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua việc thực hiện chỉ thị này sẽ nâng cao tinh thần trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp cơ sở vào công tác giám sát quá trình cho vay, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Hằng năm, tranh thủ nguồn vốn Trung ương, nguồn vốn ngân sách địa phương, chi nhánh sẽ ưu tiên phân bổ và đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ nghèo, các gia đình chính sách khác trong vùng dân tộc thiểu số. Ngoài ra, đơn vị sẽ tập trung củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách, phát triển các dịch vụ ngân hàng, bảo đảm vốn vay được đầu tư đúng đối tượng thụ hưởng, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.

Bài, ảnh: Lương Nguyên

Phân bổ kế hoạch vốn đầu tư phát triển trung hạn, giai đoạn 2016-2020: Cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư, tổng kế hoạch vốn đầu tư phát triển trung hạn, giai đoạn 2016-2020 do tỉnh quản lý là hơn 8.400 tỷ đồng (chưa tính nguồn vốn dự phòng 846 tỷ đồng). Trong đó, nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia là 581,5 tỷ đồng; nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu hơn 3.225 tỷ đồng; nguồn vốn ODA là 811,059 tỷ đồng; nguồn Trái phiếu Chính phủ 771,3 tỷ đồng và nguồn ngân sách địa phương là 3.020,1 tỷ đồng.

Đến nay, sau gần 3 năm triển khai thực hiện, toàn tỉnh đã phân bổ được hơn 5.100 tỷ đồng, đạt 61% kế hoạch. Cụ thể, các chương trình mục tiêu từ ngân sách trung ương hỗ trợ đã phân bổ cho tỉnh được 1.674 tỷ đồng, đạt 52% kế hoạch; vốn Chương trình mục tiêu quốc gia đã thực hiện phân bổ 244,282 tỷ đồng, đạt 42% kế hoạch; vốn trái phiếu Chính phủ đã phân bổ được 641,3 tỷ đồng, đạt 83% kế hoạch; vốn cân đối ngân sách địa phương đã phân bổ 1.852, 421 tỷ đồng, đạt 61% kế hoạch.

Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh báo cáo với Đoàn công tác của tỉnh về tiến độ thực hiện Dự án tuyến đường Đạo Nghĩa – Quảng Khê. Ảnh: Lê Phước

Cơ cấu lại nguồn vốn

Theo đánh giá của UBND tỉnh, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng kế hoạch vốn phân bổ thời gian qua cơ bản được giải ngân đúng tiến độ, cam kết. Tuy nhiên, việc bố trí kế hoạch vốn trung hạn giai đoạn 2016-2020 của Trung ương mới đạt ở mức độ trung bình, chưa đáp ứng được nhu cầu để thực hiện các chương trình, dự án cấp bách của địa phương. Trong khi nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội của tỉnh là rất lớn, nhất là những năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm của tỉnh. Chưa kể, trong quá trình triển khai thực hiện các dự án, tỉnh vẫn gặp không ít những khó khăn, thách thức.

Đơn cử, hằng năm, trung ương phân bổ vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia, trái phiếu Chính phủ còn chậm, phân thành nhiều đợt, gây khó khăn trong quá trình triển khai, dẫn đến kế hoạch giải ngân thấp. Một số dự án không được bố trí vốn thanh toán nợ sau khi được quyết toán hoàn thành, số quyết toán cao hơn mức phân bổ trong trung hạn, gây nợ đọng xây dựng cơ bản. Nguồn lực nội tỉnh còn khó khăn, trong khi nhu cầu thanh toán nợ xây dựng các công trình, dự án ngân sách Trung ương dừng hỗ trợ là rất lớn, tạo gánh nặng trong cân đối ngân sách địa phương…

Hiện nay, trong bối cảnh Chính phủ ưu tiên xử lý giảm nợ công, tiếp tục thắt chặt đầu tư công thì việc thu xếp nguồn lực phát triển theo kế hoạch đã đề ra là hết sức cấp thiết. Từ thực tế giải ngân vốn trong những năm qua, cũng như dự báo tình hình trong giai đoạn 2019-2020, đối với kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2016 – 2020 cần thiết phải cơ cấu lại nguồn vốn, tạo bước chuyển đột phá, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, nhất là khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư.

Liên quan đến giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đầu tư công giai đoạn 2016-2020, ông Nguyễn Đình Đạo, Trưởng Ban Kinh tế-Ngân sách, HĐND tỉnh cho rằng, hiện nay, tình trạng lãng phí, dàn trải trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản còn xảy ra nhiều. Vì vậy, trong quá trình triển khai thực hiện các dự án, cần xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các cấp có thẩm quyền trong quyết định, thẩm định, phê duyệt, phân bổ, quản lý và sử dụng vốn đầu tư nhà nước. Về cân đối vốn thì dự án đầu tư chỉ được phê duyệt khi cân đối được nguồn vốn.

Cũng theo ông Đạo, riêng đối với nguồn ngân sách địa phương, với các dự án phân bổ theo nhu cầu của cấp huyện, trong điều kiện nguồn đầu tư hạn chế, UBND tỉnh cần xem xét kỹ hiệu quả đầu tư, cũng như các điều kiện liên quan khác của từng dự án để quyết định đầu tư đúng mục đích, đúng đối tượng. Hằng năm, sau khi Nghị quyết HĐND tỉnh thông qua, UBND tỉnh nên xem xét khả năng cân đối nguồn lực cho các dự án, tính ưu tiên để bố trí dứt điểm nguốn vốn đến năm 2020, tránh tình trạng nợ đọng kéo dài.

Liên quan đến vấn đề này, ông Lưu Văn Trung, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Vốn đầu tư phải tập trung vào lĩnh vực, dự án trọng tâm, trọng điểm. Ngoài nguồn vốn Trung ương, địa phương phải linh hoạt, chủ động tăng cường các nguồn thu, hạn chế chi thường xuyên để tập trung chi cho đầu tư phát triển. Một trong những giải pháp cấp bách nữa là  tỉnh cần thắt chặt, nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công, cũng như ban hành hệ thống giải pháp khả thi, thực thi nghiêm túc các chế tài xử lý khi xảy ra các sai phạm trong đầu tư công.

Thi công tuyến đường Đạo Nghĩa – Quảng Khê. Ảnh: Lê Phước

Thu hút dòng vốn trực tiếp nước ngoài

Một trong những nguồn vốn giải ngân đạt khá trong 3 năm gần đây đó là nguồn ODA. Qua gần 3 năm triển khai, nguồn vốn này được thực hiện khá tốt, bảo đảm cam kết các hiệp định. Trong giai đoạn 2016-2020, tỉnh Đắk Nông được đầu tư hơn 811 tỷ đồng từ nguồn vốn ODA để thực hiện cho 8 dự án đã ký kết hiệp định vay. Đến nay, nguồn vốn này đã phân bổ được hơn 725 tỷ đồng, đạt 89% kế hoạch đề ra.

Thực tế, trong những năm qua, với việc thực hiện chính sách thắt chặt đầu tư công nên nguồn vốn ODA đóng một vai trò quan trọng trong đầu tư phát triển của tỉnh. Thông qua nguồn vốn này, nhiều dự án được triển khai xây dựng, đi vào hoạt động như: Dự án chăm sóc sức khỏe nhân dân các tỉnh Tây Nguyên, giai đoạn 2; Dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất cho các tỉnh Tây Nguyên; Dự án hỗ trợ xử lý chất thải y tế Bệnh viện tỉnh Đắk Nông; Dự án giảm nghèo bền vững khu vực Tây Nguyên…

Tương tự, tình hình thu hút các dự án từ nguồn vốn FDI cũng đã có chuyển biến. Từ năm 2016 đến nay, toàn tỉnh đã thu hút được 4 dự án FDI, với số vốn đăng ký là hơn 1.211 tỷ đồng, nâng tổng số dự án FDI trên địa bàn lên 7 dự án, với số vốn đăng ký hơn 500 triệu USD. Ngoài ra, tình hình kêu gọi các Dự án NGO (tổ chức phi Chính phủ) đã được các cấp, ngành chú trọng. Từ năm 2016 đến nay, tỉnh đã kêu gọi được 4 dự án, nâng tổng số dự án NGO trên địa bàn lên 6 dự án.

Tuy nhiên, để đẩy mạnh thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cần tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ thể chế, quy định pháp luật liên quan; nâng cao hơn nữa chất lượng các văn kiện, hiệu quả các cuộc đàm phán. Với những dự án có nguồn vốn đầu tư lớn, với tác động kinh tế, xã hội cao cần có cơ chế ưu tiên về mặt bằng triển khai, nguồn nhân lực thực thi bảo đảm và hệ thống pháp lý đồng bộ, minh bạch…

 

Nghị quyết số 26/2016/QH14 của Quốc hội về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 nêu rõ, tổng mức vốn đầu tư trung hạn nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 tối đa là 2.000.000 tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách trung ương là 1.120.000 tỷ đồng; vốn cân đối ngân sách địa phương là 880.000 tỷ đồng. Mục tiêu trọng tâm của Nghị quyết là cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, thu hút tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển, hoàn thiện cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thiết yếu.

 

Lương Nguyên

Khai thác bô xít Đắk Nông: “Trăm nghe không bằng… một thấy”

Cũng không thể trách, bởi từ khi Dự án khai thác bô xít ở Đắk Nông khởi động đến nay, dư luận nhiều chiều về chủ trương, dự án theo kiểu xây có, chống có, đúng có mà sai cũng nhiều. Là người địa phương, lại theo khá sát Dự án này, vậy mà có nhiều câu hỏi hay thông tin nghe được từ người khác chính bản thân chúng tôi cũng thấy lạ lẫm. Ngay cả các đồng nghiệp làm báo ở các tỉnh khu vực phía Bắc, khi vào thăm Đắk Nông, được chúng tôi dẫn đi thăm quan hoạt động khai thác, chế biến bô xít, alumin thì mới vở lẽ: thì ra từ nghe đến thấy nó khác xa “một trời, một vực”.

Công đoạn đóng bao sản phẩm alumin để vận chuyển đi xuất khẩu

Gần đây nhất, vào trung tuần tháng 4 năm 2018, chúng tôi có dịp đón Báo bạn Lào Cai vào Đắk Nông học tập kinh nghiệm, thăm quan thực tế. Điều đáng mừng là khi hỏi nhu cầu đoàn công tác của Báo bạn có ý định đi thăm quan những đâu thì ngay lập tức, đồng chí Tổng Biên tập, Trưởng đoàn trả lời là muốn đi thăm Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Trên đường đi thăm nhà máy, không ít thành viên trong đoàn báo bạn háo hức đặt ra nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề môi trường, hiệu quả kinh tế, người nước ngoài…

Sau khi được đại diện Công ty Nhôm Đắk Nông dẫn đoàn đi thăm quan quy mô, hoạt động sản xuất của nhà máy, hồ chứa bùn đỏ… thì những câu hỏi ban đầu của các thành viên trong đoàn gần như đã được giải đáp. Bởi đi cả một khu rộng lớn, đoàn khách thăm quan không hề gặp một bóng người nước ngoài tham gia vận hành nhà máy.

“Sau hơn 10 năm từ khi Dự án khai thác bô xít Nhân Cơ khởi động, lúc cao điểm nhất, Dự án cũng chỉ có khoảng 200 công nhân, kỹ sư và chuyên gia là người nước ngoài. Số người này cũng chỉ sang tham gia một số công đoạn kỹ thuật trong khâu xây lắp. Đến thời điểm hiện tại, chỉ có 10 chuyên gia, kỹ sư chính thức là người Trung Quốc đang tham gia tại nhà máy nhưng cũng không thường xuyên”, người hướng dẫn cho biết.

Còn nói về hiệu quả kinh tế, trong dự toán xây dựng ban đầu, với giá 320 USD/tấn alumin tinh là bắt đầu có lãi. Thế nhưng, hiện tại, giá xuất khẩu alumin là 720 USD/tấn, tức cao gần gấp đôi so với giá dự toán. Vì thế, khả năng thu hồi vốn của Dự án cũng sẽ được rút ngắn so với kế hoạch ban đầu. Chưa kể, sắp tới khi Nhà máy Điện phân nhôm Đắk Nông hoàn thành, đi vào vận hành, giá trị kinh tế từ khai thác bô xít sẽ tăng lên khoảng 10 lần sau khi luyện ra sản phẩm nhôm nguyên chất so với giá trị xuất khẩu alumin như hiện nay.

Nói về công nghệ, sau khi đi thăm nhà máy trên một diện tích rộng hơn 100 ha, toàn những hạng mục với máy móc “khủng”, nhiều người thắc mắc là sao ít gặp cán bộ, công nhân vận hành. Người dẫn đoàn giải thích: “Nhà máy hoạt động 24/24 giờ với khoảng 1.000 công nhân, kỹ sư chia làm 3 ca mỗi ngày. Như vậy, mỗi ca chỉ có khoảng hơn 300 công nhân, cán bộ kỷ thuật quản lý, vận hành hệ thống máy móc trên diện tích rộng gần 100 ha, tương đương mỗi người quản lý hơn 3 ha thì không thấy công nhân là điều dễ hiểu.

Với chừng ấy công nhân, cán bộ kỹ thuật nhưng vẫn bảo đảm vận hành thông suốt hoạt động của nhà máy đồ sộ này đã minh chứng cho quá trình tự động hóa trong sản xuất của nhà máy là rất cao. Điều ghi nhận là hiện tại Công ty Nhôm Đắk Nông đã làm chủ hoàn toàn về công nghệ, sẵn sàng ứng phó với những vấn đề phát sinh cũng như không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Khi đến thăm hạng mục hồ chứa bùn đỏ, nhiều người phủ nhận ngay những thông tin trước đây theo dạng “quả bong bóng bùn đỏ trên Tây Nguyên” vì nhìn thấy các khoang chứa được xây dựng dựa vào địa hình đồi núi bao quanh và phương án tái sử dụng nước triệt để từ hồ chứa để phục vụ sản xuất alumin không chỉ giảm thiểu khả năng tràn hồ mà còn tiết kiệm được gần 10% chi phí cho công đoạn tuyển, rửa quặng, làm mát hệ thống đường ống dẫn nhiệt… Chưa kể, ngoài 3 khoang chứa bùn đỏ với thiết kế dung tích sử dụng trong khoảng 50 năm, hiện cũng đang có các hồ chứa bùn đỏ dự phòng để sẵn sàng ứng phó khi có sự cố xảy ra.

Sau khi thăm quan nhà máy, được “mục sở thị” quy mô, hoạt động sản xuất cũng như những thông tin thuyết trình từ người hướng dẫn, nhiều người thốt lên “đúng là trăm nghe không bằng một thấy”.

Bài, ảnh: Đức Diệu

Tăng cường quản lý, ngăn chặn tình trạng phân bón giả, kém chất lượng lưu hành trên thị trường

Chất lượng phân bón là một trong những yếu tố bảo đảm năng suất, chất lượng cây trồng, sản phẩm

Một “mặt trận” rất khó khăn

Tại hầu hết các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội tỉnh và HĐND tỉnh, vấn đề được cử tri các địa phương quan tâm, phản ánh là tình trạng phân bón giả, kém chất lượng ngày càng tràn lan trên thị trường. Nhiều cử tri cho rằng, việc phát hiện và xử lý phân bón giả, kém chất lượng chỉ mới là “bề nổi của tảng băng chìm”. Cử tri cũng trải lòng về tình trạng “tiền mất, tật mang” chỉ vì gặp phải phân bón kém chất lượng. Có lẽ, chỉ những người trong cuộc như nông dân mới thấm thía với nỗi đau này, không những thất thu sản phẩm trong một mùa vụ mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của cây trồng và các vụ mùa tiếp theo.

Thực tế cho thấy, thời gian qua, trên thị trường xuất hiện nhiều loại phân bón giả, phân bón kém chất lượng và bị cơ quan chức năng xử phạt dưới nhiều hình thức. Ghi nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri, tại kỳ họp thứ 6, HĐND tỉnh khóa III mới đây, các đại biểu đã chất vấn đối với các sở, ngành liên quan về công tác quản lý vật tư nông nghiệp nói chung và phân bón nói riêng.

Theo ông Lê Trọng Yên, Giám đốc Sở Nông nghiệp-PTNT, toàn tỉnh hiện có trên 500 cơ sở kinh doanh phân bón. Nhu cầu hàng năm toàn tỉnh cần khoảng 600.000 tấn phân bón các loại; trong đó phân vô cơ chiếm đến 82%. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lưu thông phân bón giả, kém chất lượng nhiều, mà chủ yếu vẫn là những hạn chế trong công tác quản lý. Năm 2017, các đơn vị đã tổ chức thanh tra và xử lý các cơ sở phân bón vi phạm về chất lượng, tiêu chuẩn. Riêng về tiêu chuẩn đã xử lý trên 100 triệu đồng. Mới đây, cơ quan chức năng đã công bố 6 loại sản phẩm của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón không đủ điều kiện, không bảo đảm chất lượng.

Nhiều đại biểu cho rằng, cũng từ những hạn chế của công tác quản lý nên việc tổ chức hội thảo phân bón ở các địa phương hiện nay diễn ra “như cơm bữa” nhưng về chất lượng phân bón thì chưa có cơ quan chức năng nào dám khẳng định. Ông Bùi Huy Thành, Giám đốc Sở Công Thương cho rằng, để kiểm tra chất lượng phân bón thì phải đưa đi xét nghiệm mẫu mới có kết quả, nhưng cũng phải đến 3 lần kiểm tra và phải trùng kết quả mới có điều kiện xử phạt. Cùng với đó, người dân hay có thói quen mua phân bón trôi nổi bán trên xe ô tô. Trong khi đó, những loại phân bón này thường chưa có uy tín trên thị trường, nhãn hiệu hàng hóa nếu có cũng là mới. Nhà phân phối chỉ mới hội thảo được một lần, dân mình thấy rẻ, thấy hấp dẫn là mua, trong khi cơ quan chức năng chưa kiểm nghiệm.

Ông Thành cũng khẳng định: “Việc phát hiện phân bón giả, phân bón kém chất lượng là rất khó. Bắt là bắt chủ yếu trong khâu lưu thông, bắt tại xe, bắt trong lúc nó bán địa điểm không cố định, chứ tại cửa hàng kinh doanh phân bón là hầu như chúng ta không phát hiện được. Đây là một “mặt trận” rất khó khăn”.

Ông Lê Trọng Yên cũng khẳng định, trong 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đã tổ chức khoảng 518 cuộc hội thảo phân bón. Khi tổ chức hội thảo, các doanh nghiệp đều làm theo quy định về thủ tục hành chính, quy trình nên không thể cấm được.

Tất cả phải vào cuộc

Trước chất vấn của các đại biểu, ông Lê Trọng Yên đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm thực hiện “lời hứa” về hạn chế tình trạng lưu hành của các loại phân bón giả, phân bón kém chất lượng. Theo đó, để giảm thiểu được tình trạng lưu hành các vật tư nông nghiệp nói chung và phân bón giả, kém chất lượng nói riêng thì tất cả phải vào cuộc, nhất là chính quyền cấp huyện, xã, các ngành liên quan.

Trong năm 2018, ngành nông nghiệp sẽ kết hợp với Sở Y tế, Sở Công thương xây dựng quy định về phân cấp quản lý vật tư nông nghiệp cho các địa phương. Ngành cũng kết hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các đoàn thanh, kiểm tra các hoạt động liên quan đến cung ứng vật tư nông nghiệp, nhất là phân bón. Qua thanh, kiểm tra, những cơ sở kinh doanh và sản xuất phân bón vi phạm sẽ được công khai rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Thời gian qua, việc tổ chức hội thảo tràn lan cũng là cơ hội để nhiều cơ sở kinh doanh phân bón trục lợi, nên cần siết chặt quản lý. Các đơn vị liên quan như UBND các xã, các phòng nông nghiệp, trạm bảo vệ thực vật và trạm khuyến nông phải là đơn vị giám sát chặt chẽ, tránh lợi dụng về giới thiệu sản phẩm, nhất là bán sản phẩm tại các hội thảo. Công tác tuyên truyền cũng cần chú trọng nhằm giúp người dân nâng cao nhận thức, phân biệt được các sản phẩm uy tín, chất lượng. Riêng ngành nông nghiệp sẽ thực hiện phân cấp, phân quyền trong quản lý chất lượng các vật tư nông nghiệp nói chung và phân bón nói riêng.

Bài, ảnh: Nguyễn Hiền

Moody’s nâng mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam

Moody’s ước tính kinh tế Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng mạnh, ở mức khoảng 6,5%, với sự hỗ trợ từ sự sử dụng ngày càng hiệu quả nguồn lao động và vốn trong nền kinh tế.

Nền kinh tế Việt Nam có cả sức mạnh kinh tế cùng với mức tăng trưởng và sức cạnh tranh cao khi đang chuyển hướng phát triển sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao.

Moody’s cũng nâng mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam từ B1 lên Ba3 và điều chỉnh triển vọng từ tích cực sang ổn định.

Chế biến cá thát lát xuất khẩu tại Công ty CP Thực phẩm Phạm Nghĩa. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Đánh giá của Moody’s được đưa ra dựa trên tiềm năng tăng trưởng mạnh mẽ với sự hỗ trợ từ việc sử dụng ngày càng hiệu quả lực lượng lao động và nguồn vốn trong nền kinh tế.

Theo Moody’s, kỳ hạn trung bình của trái phiếu chính phủ dài và giảm dần sự phụ thuộc vào nợ bằng ngoại tệ cho thấy sự ổn định và giảm dần gánh nặng nợ của chính phủ, nhất là nếu tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ được duy trì dài hơn dự kiến.

Cấu trúc trái phiếu của Chính phủ Việt Nam cũng hạn chế sự tác động của các “cú sốc” tài chính. Việc nâng mức xếp hạng nói trên đối với Việt Nam cũng cho thấy sự cải thiện “sức khỏe” của ngành ngân hàng mà Moody’s dự báo sẽ được duy trì dù là từ các mức tương đối yếu.

Moody’s cũng nâng mức trần tín nhiệm đối với trái phiếu ngoại tệ (FC) dài hạn từ Ba2 lên Ba1 và mức trần tín nhiệm đối với tiền gửi FC dài hạn từ B2 lên B1.

Theo TTXVN

Kỳ vọng sẽ tạo bước đột phá trong tăng trưởng ngành Nông nghiệp

Đồng chí Trương Thanh Tùng, TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh

PV: Thưa đồng chí, sau khi Đề án được thông qua, tỉnh sẽ có lộ trình triển khai cụ thể như thế nào?  

Đồng chí Trương Thanh Tùng: Trên cơ sở tiêu chí về hình thành vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo Quyết định 66/QĐ-TTg ngày 25/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ và Đề án đã được thông qua, tỉnh đã xây dựng lộ trình để phát triển vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo từng giai đoạn với các loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh.

Theo đó, giai đoạn 2017-2020, tỉnh sẽ hình thành 3 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên tinh thần ưu tiên các vùng mà sản phẩm đã có các dự án, doanh nghiệp đầu tư hoặc đã sản xuất theo phương thức ứng dụng công nghệ cao. Tiếp theo, tỉnh sẽ hình thành và phát triển 20 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nâng tổng số lên 23 vùng vào năm 2025.

Giai đoạn 2026-2030, chúng ta tiếp tục phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã có, phát triển thêm 20 vùng, nâng tổng số lên 43 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào năm 2030.

Giai đoạn 2031 – 2035, tiếp tục phát triển có hiệu quả 43 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hiện có, từng bước mở rộng quy mô và đối tượng; đồng thời hình thành và phát triển thêm 12 vùng, nâng tổng số lên 55 vùng  nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào năm 2035.

Trước mắt, tỉnh sẽ tập trung xây dựng 3 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với 3 thế mạnh gồm: vùng sản xuất cà phê ở Đắk Mil; vùng sản xuất hồ tiêu ở Đắk Song và vùng sản xuất cây ăn quả tại thị xã Gia Nghĩa.

Đồng chí Trương Thanh Tùng thăm mô hình sản xuất rau tại Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh (xã Đắk Nia, thị xã Gia Nghĩa)

PV: Vậy kỳ vọng về sự thay đổi chất lượng ngành nông nghiệp từ các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như thế nào thưa đồng chí?

Đồng chí Trương Thanh Tùng: Đắk Nông có thế mạnh nông nghiệp với những cây trồng chủ lực có diện tích, sản lượng lớn, đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, giá trị cao như: cà phê trên 129.000 ha, cao su gần 30.000 ha, hồ tiêu trên 33.000 ha, điều trên 14.000 ha… Trong thời gian qua, ngành Nông nghiệp của tỉnh đã đạt được những kết quả nhất định với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7%/năm trong giai đoạn 2005 – 2016; sản lượng hàng hóa xuất khẩu ngày càng tăng, thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn ngày càng được cải thiện.

Tuy nhiên, phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh chưa toàn diện, bền vững, năng suất, giá trị các sản phẩm chủ lực chưa cao. Một số mặt hàng nông sản xuất khẩu tuy có tăng về số lượng và giá trị nhưng thu nhập của nông dân ở các vùng sản xuất hàng hóa không tăng. Cùng với đó, chất lượng hàng nông sản, sức cạnh tranh trên thị trường chưa cao, sản xuất chưa gắn kết chặt chẽ với chế biến, tiêu thụ, một số nông sản thực phẩm chưa bảo đảm an toàn… đang đặt ra nhiều vấn đề đối với sản xuất nông nghiệp. Do vậy, muốn phát triển ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, biện pháp tối ưu là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để gia tăng giá trị.

Trên cơ sở những tiềm năng, thế mạnh, tỉnh sẽ chú trọng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng trên diện rộng công nghệ cao trong nông nghiệp để sản xuất các sản phẩm hàng hóa có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao. Qua đó, tỉnh có lộ trình, mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Cụ thể, dự kiến giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 chiếm từ 5-7% trong giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Đến năm 2025, đưa giá trị sản lượng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm từ 20-25% trong giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh và lên 35 – 40% trong giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh vào năm 2030.

Sau khi xây dựng, ổn định các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, Đắk Nông phấn đấu đến năm 2035, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao toàn tỉnh chiếm ít nhất 60 -70% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Như vậy, với việc hình thành, phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ là kỳ vọng về chuyển biến cả chất lượng, giá trị của ngành nông nghiệp, tạo tiền đề trong lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực nông nghiệp, nông thôn.

PV: Được biết, để triển khai hiệu quả, đúng lộ trình Đề án, tỉnh đã đưa ra 11 nhóm giải pháp thực hiện, vậy đồng chí cho biết đâu là nhóm giải pháp căn cơ nhất?

Đồng chí Trương Thanh Tùng: Có thể khẳng định, để đạt được các mục tiêu trên đòi hỏi phải triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp kết hợp như đẩy mạnh tuyên truyền, hoàn thiện cơ chế chính sách về đất đai, nguồn nhân lực, hợp tác quốc tế…Nhưng có thể khẳng định, giải pháp căn cơ để tạo sự đột phá cho ngành nông nghiệp đó là thu hút đầu tư, thành lập các doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, doanh nghiệp tư nhân. Bởi khi các doanh nghiệp cùng tham gia với nông dân thì sẽ đưa được công nghệ hiện đại, đồng bộ vào sản xuất. Lúc đó, không chỉ vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn, đồng bộ, chất lượng cao mà còn có tác dụng lan tỏa, sức ảnh hưởng với những vùng lân cận, tạo hiệu ứng dây chuyền trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất.

Trang trại Thu Thủy, xã Nâm N’Jang (Đắk Song) có hơn 2.000 m2 nhà lưới, nhà kính trồng rau, củ

PV: Ngoài doanh nghiệp, đồng chí đánh giá thế nào về vai trò liên kết của các “nhà” trong xây dựng, phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao?

Đồng chí Trương Thanh Tùng: Như đã nói, thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp là giải pháp căn cơ, tiền đề để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, muốn làm được điều này thì vai trò liên kết là rất quan trọng, mang tính tất yếu.

Trong điều kiện sản xuất chúng ta hiện còn theo kiểu nhỏ lẻ, truyền thống, vốn ít thì muốn tạo bước đột phá, nhất thiết phải thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ bền vững giữa 5 nhà gồm: Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà băng (ngân hàng). Trước đây, người ta hay nói đến 4 nhà, nhưng nay thêm vai trò của nhà băng hay nhà tín dụng, bởi nông nghiệp không thể cất cánh nếu doanh nghiệp, nông dân không được hỗ trợ tích cực về vốn, vay vốn.

Trên cơ sở nội dung, đầu việc phải thực hiện, Đề án đã đưa ra khái toán vốn đầu tư của tỉnh khá lớn, với khoảng 7.836,63 tỷ đồng gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn vay, vốn của doanh nghiệp, tổ chức, nông dân, huy động khác để phát triển vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo lộ trình…

Trong sự liên kết giữa 5 nhà phải đặt nhà nông vào vị trí trung tâm. Bởi chung quy lại mục tiêu cuối cùng của Đề án là nâng cao thu nhập cho nông dân, để nông dân có thể xóa đói, giảm nghèo, làm giàu bền vững trên chính mảnh đất của mình. 4 nhà còn lại phải tích cực giúp đỡ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho nhà nông thì nông nghiệp mới phát triển. Từ đó, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao mới tạo được bước đột phá trong tăng trưởng kinh tế nội ngành.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

Hồng Thoan thực hiện

Nhiều kỳ vọng từ mô hình “Cà phê doanh nhân”

Doanh nghiệp kiến nghị vướng mắc với lãnh đạo tỉnh tại buổi “Cà phê doanh nhân”

Bước đầu tạo dựng niềm tin cho doanh nghiệp

Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư, tính đến giữa tháng 7/2018, mô hình “Cà phê doanh nhân” đã qua 7 lần tổ chức có 91 lượt doanh nghiệp tham gia. Qua các lần gặp gỡ, tiếp xúc, lãnh đạo tỉnh đã tiếp nhận hơn 37 khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của 26 doanh nghiệp.

Các kiến nghị, đề xuất tại buổi “Cà phê doanh nhân” thường tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu như: đất đai, môi trường, tài chính, xây dựng, quy hoạch, giao đất, giao rừng, quy định thời gian kiến thiết cây trồng và cơ chế chính sách… Từ những nội dung kiến nghị và giải quyết trả lời khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tổng hợp báo cáo về UBND tỉnh.

Theo đó, đến nay, các ngành, các cấp đã giải quyết đến kết quả cuối cùng cho 16 kiến nghị. Còn lại 12 kiến nghị đang xem xét, 6 kiến nghị chưa trả lời thỏa đáng và 3 kiến nghị đã trả lời cho doanh nghiệp theo quy định của pháp luật nên không thể xem xét giải quyết.

Phần lớn các doanh nghiệp tham gia đều đánh giá cao việc tỉnh tổ chức mô hình “Cà phê doanh nhân”. Thông qua các buổi cà phê, doanh nghiệp được trực tiếp trao đổi, phản ánh, chia sẻ các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư của mình cũng như những khó khăn, vướng mắc cần được hỗ trợ từ phía chính quyền với các đồng chí lãnh đạo tỉnh và cơ quan quản lý nhà nước.

Ông Nguyễn Trung Thành, Giám đốc Công ty TNHH Nguyên Thành Phát, xã Đắk Wer (Đắk R’lấp) cho biết: Thông qua mô hình cà phê doanh nhân, doanh nghiệp của chúng tôi kiến nghị về việc đang gặp khó khăn về giấy phép xây dựng cho Khu du lịch sinh thái. Qua phản ánh trực tiếp, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Bốn lắng nghe và trực tiếp chỉ đạo Giám đốc Sở Xây dựng ngay trong buổi chiều gặp gỡ để tháo gỡ cho doanh nghiệp… Thực ra, các vướng mắc này đã diễn ra một năm nay rồi. Khi mà công ty xin chủ trương để xây dựng nông nghiệp công nghệ cao, nhưng cứ bị hiểu lầm từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực xây dựng nên chưa được giải quyết. Trong khi đó, công trình đã xây dựng được tới 70-80% dự án, sắp đưa vào hoạt động rồi… Tôi nghĩ, mô hình cà phê doanh nhân của tỉnh rất là tốt. Tôi kỳ vọng, tại diễn đàn này, các đồng chí lãnh đạo của tỉnh sẽ tháo gỡ được nhiều hơn nữa những vướng mắc cho các doanh nghiệp, doanh nhân.

Theo đánh giá chung, việc trả lời các kiến nghị cho doanh nghiệp của các đơn vị liên quan thường đúng trọng tâm, xử lý kịp thời, trả lời nhanh, gọn… Trong đó, nhiều kiến nghị của doanh nghiệp đều được các sở, ban, ngành, các đơn vị có liên quan quan tâm trả lời, bảo đảm thời hạn theo quy định. Một số sở, ban, ngành đã trả lời cho doanh nghiệp, nhà đầu tư đến kết quả cuối cùng và được đánh giá cao như: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Sở Công thương, UBND thị xã Gia Nghĩa…

Ông Trần Văn Thuân, Giám đốc Chi nhánh Viettel Đắk Nông, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Đắk Nông cho biết: “Để phát huy hiệu quả của mô hình này, theo tôi nghĩ, những vướng mắc, khó khăn ấy nên được giải quyết ngay tại chỗ, ít nhất là phải 80% trở lên để tạo nên niềm tin cho doanh nghiệp”.

Và những hạn chế cần khắc phục

Theo đánh giá của UBND tỉnh, bên cạnh những kết quả đạt được thì tại các buổi “Cà phê doanh nhân” vẫn còn bộc lộ một số tồn tại cần sớm được khắc phục, để giúp mô hình thực sự phát huy hiệu quả như mong đợi.

Trong đó, một số đơn vị còn trả lời chậm trễ, trả lời chưa đến kết quả cuối cùng, không đúng thời gian quy định các kiến nghị, khó khăn của doanh nghiệp, gây khó khăn cho công tác tổng hợp báo cáo. Một số kiến nghị của doanh nghiệp, cơ quan chức năng chưa trả lời, xử lý đúng thời hạn như: UBND huyện Đắk Glong trong việc xử lý kiến nghị cho Hợp tác xã Tân Thịnh; Sở NN& PTNT trong việc trả lời kiến nghị của Công ty Phú Gia Phát (Krông Nô); Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời kiến nghị của Công ty Cổ phần Đầu tư và xuất nhập khẩu An Phong (Đắk Song)…

Một số vấn đề về giải quyết, tranh chấp đất đai, bổ sung điều chỉnh quy hoạch, môi trường; việc giao đất, giao rừng; cơ chế chính sách, đấu giá đất hay không đấu giá… các sở, ngành, địa phương còn trả lời chung chung hoặc cam kết sẽ thực hiện trong thời gian tới. Một số kiến nghị của doanh nghiệp lại được các sở, ban ngành, các đơn vị liên quan trả lời chưa đúng với tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh. Từ đó dẫn đến tình trạng doanh nghiệp kiến nghị lặp lại nhiều lần.

Để mô hình “Cà phê doanh nhân” thực sự phát huy hiệu quả, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo cụ thể đối với việc giải quyết những kiến nghị cho doanh nghiệp. Trong đó, đối với những kiến nghị đã được các sở, ngành, các đơn vị liên quan trả lời trực tiếp tại các buổi cà phê doanh nhân thì phải có văn bản trả lời gửi doanh nghiệp để làm căn cứ.

Những kiến nghị chưa được trả lời tại buổi cà phê, khi nhận được văn bản của UBND tỉnh hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư gửi đến, các sở, ngành, đơn vị liên quan cần khẩn trương xem xét trả lời cho doanh nghiệp bằng văn bản. Trong trường hợp kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, các đơn vị được giao chủ trì thực hiện phải có lộ trình, kế hoạch, thời gian trả lời cụ thể để doanh nghiệp biết và thực hiện các bước tiếp theo…

Bài, ảnh: Lê Dung

Cư Jút, doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm đậu nành của người dân với giá cao hơn thị trường từ 2.000-3.000 đồng/kg

Hiện nay, toàn bộ diện tích liên kết này người dân đang tiến hành thu hoạch, năng suất trung bình trên 3 tấn/ha, cao hơn so với trước đây không tiến hành liên kết từ 0,5-1 tấn/ha. Công ty Vinasoy thu mua cho nông dân với giá 14.000 đồng/kg, cao hơn so giá trên thị trường từ 2.000-3.000 đồng/kg.

Được biết, trong quá trình liên kết, Công ty Vinasoy đã hỗ trợ người dân về giống, kỹ thuật chăm sóc và bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra. Trước những lợi ích kinh tế từ liên kết sản xuất đưa lại, Công ty Vinasoy sắp tới sẽ vận động người dân trên địa bàn xã Nam Dong và các xã lân cận ký kết hợp đồng mở rộng diện tích sản xuất theo chuỗi giá trị.

Bình Minh